<BGSOUND src="Nhac Dieu Buon Phuong Nam.mp3"> Le Dinh





NHN









































































TẬT XẤU CỦA NGƯỜI MÌNH




NHN

Dân tộc nào cũng có tật xấu. Biết tật xấu của mình để sửa là đã … bớt xấu. Chú ba Bá Dương sinh năm 1920 ở Hoa lục, từ 1949 sống cùng bà vợ thi sĩ ở Đài Loan, đã viết cuốn “Người Trung quốc xấu xí”, vạch ra những tật xấu của dân tộc ông. Bá Dương được khen cũng nhiều mà bị chửi cũng lắm; nhưng cả người khen lẫn người chửi đều có dịp nhìn lại chính mình để tự sửa. Các cụ thời Khổng Mạnh ngày xưa dạy “nhất nhật tam tỉnh”, người quân tử mỗi ngày tự xét mình ba lần; nhưng lấy cái gì làm mẫu mực để xét, xưa nay chỉ có Bá Dương viết thành sách, hệ thống hoá thành từng mục.

Ai dám bảo người Việt mình không có tật xấu? Chắc chỉ có mỗi nhà văn nằm vùng Vũ Hạnh, đã viết cuốn sách “Người Việt cao quí” để khích động lòng tự hào dân tộc; nhưng anh ta cũng không đủ tự tin nên ký tên “Pazzi”, và nói dối là “sách dịch”!

Gần đây có một bài báo phổ biến trên liên mạng nói về “bản chất ghê tởm của người Việt ở Mỹ”, nhưng tác giả đã lẫn lộn “bản chất” dân tộc với “thói xấu” của một số người Việt ở một quốc gia: Mỹ. Có một bản liệt kê khác, cũng được phổ biến trên mạng, nêu ra 100 đặc điểm để nhận ra người Việt; nhưng duyệt lại thì thấy chỉ có khoảng 15% là đặc tính của người Việt di tản hay tị nạn, còn lại là đặc tính chung của di dân từ châu Á…

Năm hết Tết đến, một nhà báo thường đứng ra tổ chức các buổi sinh hoạt cộng đồng, đã gợi ý về việc nêu lên vài tật xấu của “phe ta” trong các buổi hội họp, hội thảo mừng Xuân, giúp bà con có dịp nhìn lại mình để tự xét và tự sửa... Nghĩ lại, cũng nên lắm, vì có thấy mới có sửa, có sửa mới có tiến, có tiến thì mới có cái để “tự hào dân tộc” và làm gương cho con cháu.

Hôm nay, xin chỉ “nghĩ” về tệ nạn trong buổi sinh hoạt cộng đồng.

Thứ nhất, là giờ cao su. Người ta mời 8 giờ thì 8 giờ mới bắt đầu tắm rửa, lựa chọn quần áo giày giép, xịt tóc, bôi nước hoa và thong thả ra xe… thì đã là nhanh lắm. Tôi thấy có những đám cưới, thiệp mời ghi “6 giờ” mà tới 8 giờ rưỡi mới bắt đầu. Khách Việt thì vui vẻ tự nhiên tới trễ còn khách tây thì rầu rĩ ra mặt hay cố giấu sự khó chịu sau khi ngồi rục tại ghế chờ đợi đã hơn hai tiếng đồng hồ. Tôi cũng thấy có nhiều đám cưới in ra hai loại thiệp, mời khách Việt thì ghi “6 giờ: hàn huyên; 8 giờ: vào tiệc” nhưng mời khách tây, chỉ ghi “8 giờ”, khiến cho khách nào cũng tới… đúng 8 giờ hay lục tục trễ hơn 15, 20 phút, có thể chấp nhận được. Dân tộc Việt chỉ “chậm tiến” hơn người ta có mỗi 2 giờ thôi mà!

Tệ trạng “giờ cao su” đã giảm dần, sau này giờ “hàn huyên” giảm lại còn 1 giờ, vì một khi đã ghi rõ “8 giờ vào tiệc” thì người Việt áp dụng đúng câu “ăn cỗ đi trước lội nước đi sau”, ít ai muốn tới trễ hơn.

Sinh hoạt cộng đồng cũng vậy. Ban Tổ chức ghi trên thư mời “giờ hàn huyên” và “giờ bắt đầu nghi lễ.” Nhiều ban tổ chức muốn tập thói quen tốt cho cộng đồng, cứ đúng giờ bắt đầu nghi lễ thì khai mạc, lại gặp tệ nạn là ngoại trừ những người trong ban tổ chức, số quan khách rất lèo tèo.

Tệ nạn thứ hai là nhiều diễn văn và diễn văn dài quá, nhất là trong những cộng đồng lớn mà lại gặp mùa bầu cử ở thành phố sở tại. Chính khách tây khi được cho 3 phút, thường chỉ nói tới 4 phút là nhiều. Giới chức cộng đồng Việt thường không bao giờ viết và đọc thử ở nhà để coi “3 phút” nó dài bao nhiêu giòng; nhiều vị được cho “3 phút” mà cầm lên sân khấu tới “3 trang”, tức khoảng 30 phút khiến sau đó xảy ra tình trạng đưa giấy lên nhắc hay ngay cả cho người lên bục bấm lưng lôi xuống, gây ra tình trạng cãi lẫy giận hờn về sau.

Đó là chưa kể có người muốn biểu diễn tài ứng khẩu của mình, ban đầu cũng định nói ngắn, sau thấy được người ta nghe và vỗ tay nên đứng nói hoài, thậm chí không biết “lối ra” chỗ nào nên cứ lúng ta lúng túng lặp đi lặp lại mãi một ý. Có người “nói tóm lại” tới năm bảy lần mà vẫn chưa túm được cái chỗ cần túm. Có người viết sẵn bài diễn văn, nhưng vì thiếu ánh sáng, vì mắt kém, vì khớp, đọc không rõ hay đọc lộn hàng, kiếm không ra chỗ nối sau khi ngẩng nhìn lên, nên lại lâm tình trạng “mất lối ra”!

Tệ trạng thứ ba là cử toạ ồn ào. Điều này cũng dễ hiểu. Nhiều người một năm nhân ngày Tết mới tới chỗ sinh hoạt cộng đồng. Lâu lâu gặp nhau, lại là chỗ sui gia, họ hàng, bạn bè bồ bịch, không lẽ không nói, mà đã nói thì không thể nói nhỏ vì ban tổ chức để âm lượng to quá, phải hét vào tai nhau mới nghe thấu. Hội trường 200 người mà 50 cặp nói chuyện thì đã thành một cái chợ. Nếu buổi sinh hoạt được tổ chức trong nhà hàng, dọn ăn cùng lúc với các bài diễn văn, thì ngoài tiếng nói còn có tiếng bát đũa, muỗng nĩa khua leng keng, tiếng mời chào nhau, tiếng cười đùa rả rích, khiến diễn giả và quan khách cụt hứng, nhiều người xếp bài lại, chỉ nói qua loa vài câu rồi “cảm ơn quí vị”, đi xuống.

Tệ trạng thứ tư là nạn quay phim, chụp hình. Với sự tân tiến của khoa học kỹ thuật ngày nay, máy quay phim, chụp hình rất rẻ. Không đem máy thì chụp hình, quay phim bằng cell phone cũng được. Có nhiều buổi sinh hoạt, người chụp hình, quay phim vây kín cả sân khấu, qua lại rộn ràng ngay trong lễ chào cờ, hay che kín tầm mắt cử toạ trong những màn trình diễn hấp dẫn.

Tệ trạng thứ năm là hát tham. Nhiều người được ghi trong chương trình một bài, hát xong không nghe ai “bis” cũng “chân thành thành cảm tạ và để đáp lại tấm thịnh tình của quí vị”… hát thêm bài nữa. Nhân đây tưởng cũng nên nhắc lại tục lệ “bis” của xã hội tây phương. Một khi khán giả hô “bis” và đồng thanh vỗ tay thành nhịp “rụp… rụp… rụp…” thì là họ đồng thanh yêu cầu nghệ sĩ hát hay chơi lại chính bài đó, không phải bài nào khác. Một khi được yêu cầu, nghệ nhân chỉ hát hay chơi lại đoạn hay nhất trong bài, không phải trọn bài. Đó là văn minh tây phương.

Người Việt mình khi trình bày một bài hát, đã hát tới hai lần hoặc một lần rưỡi với một đoạn nhạc chuyển, đã làm cho bản nhạc trở nên nhàm chán rồi; khi được “bis” lại tương cho một bản khác. Có người còn tham ngoại hạng bằng cách hát ba bài và chọn bài dài: Hòn Vọng Phu, Hội Trùng Dương hay liên khúc bất tận. Hát như vậy thì mục trước lấn mục sau, có khi ca sĩ chuyên nghiệp mà ban tổ chức tốn rất nhiều tiền để mời tới cũng không có chỗ để chen vào hát, và thường khi thì chương trình văn nghệ chỉ mới qua được chưa tới phân nửa mà khán giả đã ra về gần hết, chỉ còn lại ban tổ chức.

Trên đây chỉ mới kể tới năm tệ nạn chính, còn những khuyết điểm nhỏ hơn về âm thanh, ánh sáng, phông, người dẫn chương trình, ban nhạc, tiếp tân, tặng quà, bán đấu giá,.. có dịp sẽ “nghĩ” tới sau.

Văn hóa là cách sinh hoạt của một dân tộc, bao gồm cả điều hay lẽ phải lẫn thói hư tật xấu. Vì là nếp sống, nên văn hóa uyển chuyển, thay đổi để thích nghi. Cộng đồng người Việt sống trên đất khách, giao tiếp, chung đụng với dân bản xứ và nhiều cộng đồng sắc tộc khác, cần xem lại cách hành xử sao cho thích hợp với lề thói địa phương, loại bỏ các thói xấu đồng thời vẫn giữ được bản sắc dân tộc. Có làm được như thế chúng ta mới có thể tự hào là có hơn 4000 năm văn hiến.

NHN




















Free Web Template Provided by A Free Web Template.com