<BGSOUND src="Nhac Dieu Buon Phuong Nam.mp3"> Le Dinh





























































Đánh thắng 3 đế quốc
để trở thành… ăn mày!







Đảng cộng sản Việt Nam luôn tự hào là đã đánh thắng được 3 đế quốc, thực dân để gần đội đít bảng xếp hạng danh sách của Liên Hiệp quốc và trở thành… ăn mày! ĐVSVN tài đến thế là cùng.



Từ ngày gia đình họ bị tan nát bởi cha bởi ông Nguyễn Sinh Sắc (còn gọi là Nguyễn Sinh Huy), báo chí thường gọi bằng cụ Phó bảng, 1862 - 1929 là cha đẻ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong một cơn say rượu, ông đã cho thuộc hạ dùng roi mây đánh một người tù vào tháng 1-1910[2]. Hai tháng sau trận đòn thì người này qua đời, gia đình người này kiện lên cấp trên. Dù ông đã biện hộ rằng không phải vì trận đòn của ông mà người kia chết, nhưng ông vẫn bị triều đình nhà Nguyễn ra sắc chỉ ngày 17-9-1910 phạt đánh 100 trượng. Hình phạt nầy được chuyển đổi thành hạ bốn cấp quan và sa thải. (1)

CHỨNG CHỈ VỀ CỤ NGUYỄN SINH SẮC
BỊ TOÀN QUYỀN PHÁP CÁCH CHỨC

Lâm vào cảnh khốn đốn, Nguyễn Tất Thành phải bôn ba tìm kế sinh nhai như đi dạy học, Vào một ngày trong tháng 8 năm 1910, Nguyễn Tất Thành rời Quy Nhơn, đi vào Sài Gòn. Từ nửa sau tháng 9 năm 1910 đến trước tháng 2 năm 1911, Nguyễn Tất Thành dạy học ở trường Dục Thanh thuộc tỉnh Phan Thiết. Rồi xin làm phụ bếp trên tàu buôn Amial La Touche Tréville vào tháng 6 năm 1911 thì cũng là chuyện bình thường như bao người tìm việc bình thường khác chứ có con mẹ gì đâu mà đảng cộng sản VẸM NÔ lại vẽ vời là “Bác đi tìm đường cứu nước”! Cứu đói thì cứ nói thiệt là cứu đói đi, hà cớ gì phải thần thánh hóa việc cứu đói thành chuyện kíu nước.

Còn lá đơn của Nguyễn Tất Thành đề ngày 15-9-1911 gởi cho Tổng thống và Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp xin 2 vị này ban ân huệ cho được học ở trường thuộc địa Paris nơi đào tạo các sĩ quan chuyên phục vụ cho các thuộc địa của Pháp, trong đó có khu vực Đông Dương, được hai ông Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu sao lục trong văn khố của Pháp và trình làng. Nội dung trong đơn xin nói rằng: “Tôi xin trân trọng thỉnh nguyện lòng hảo tâm của Ngài ban đặc ân cho tôi được học nội trú trường thuộc địa Pháp. Tôi hiện đang làm trong công ty Chargeurs Réunis (trên tàu Amiral La Touche Tréville). Tôi hoàn toàn không có chút tài sản nào, nhưng rất khát khao học hỏi. Tôi muốn được phục vụ và ước mong trở nên hữu ích cho nước Pháp…(2)

Hai lá đơn cùng với lá thư gởi Khâm sứ Pháp ở Huế cho thấy rằng Nguyễn Tất Thành chỉ lo cho bản thân, cho tương lai của ông thôi chứ chẳng phải cho đồng bào, cho dân tộc con khỉ khô chi cả. Đây là một trong những vấn đề nhức nhối mà đảng cộng sản VẸM NÔ cố tình che giấu và lấp liếm. Tuy nhiên, giá mà lúc ấy Nguyễn Tất Thành được chấp thuận cho học trường Bảo hộ Pháp thì đất nước đâu có lâm vào cảnh ngặt nghèo, cơ cực như ngày hôm nay mà dân Việt Nam bất hạnh phải gánh chịu.

Giá mà

125 năm trước nếu không có?
Bác
Thì suốt 85 năm sau lòng dân miền Bắc đâu có?
Tan tác
40 năm sau nữa, cả nước không sống trong cảnh?
Ngơ ngác
Đâu có chuyện mấy triệu thanh niên cả hai miền Nam Bắc?
Banh xác
Cũng đâu có hiện tượng vượt biên, vượt biển
Ào ạc

Và suốt 80 năm miền Bắc không phải nghe loa phóng thanh
Cạ cạc
Cả nước không phải nghe TV, báo đài toàn mụ mị và?
Lung lạc
Cả thế giới không phải nhìn Việt Nam là một nước?
Bệ rạc

Thủ tướng và các quan chức đi ra nước ngoài không phải bị khinh là?
Đồ đốn mạt!
Các nhà đấu tranh Dân Chủ không phải bị?
Tù dạt
Các em bé gái chưa đến tuổi vị thành niên không phải đi?
Lang bạt
Thiếu nữ Việt Nam không thèm đi ra nước ngoài để?
Làm đĩ kiếm bạc
Thanh niên khỏi đi làm lao nô và luôn bị?
Bắt nạt
Doanh nhân cũng không sống trong tình cảnh?
Bị lường gạt
Hiến pháp cũng không có những điều luật như 79, 88, 258?
Xuyên tạc
Dân oan cũng không bị cướp đất cướp nhà rồi trở nên?
Tàn mạt

Sinh viên, học sinh ở trường học đâu phải bị?
Cưỡng đạt
Tài xế lái xe đâu phải bị CSGT xử phạt bằng cách bỏ túi riêng cả?
Khối bạc
Quân đội đâu phải bị Tàu Phù?
Dọa nạt

Dân Việt Nam đâu phải?
Xơ xác
Thể chế chính trị đâu có đảng?
Độc ác
Chính phủ đâu có?
Gian ác

Giá mà 125 năm trước mẹ Bác không đẻ ra Bác thì nước Việt Nam đâu có?
Tan nát (4)

Ngược dòng thời gian vào những thập niên 50-60, hòa theo xu hướng văn minh của nhân loại, các quốc gia có nhiều thuộc địa như Anh, Pháp, Tây Ban Nha… phải tuân thủ theo yêu cầu của Liên Hiệp Quốc về Hiến chương TUYÊN BỐ VỀ TRAO TRẢ ĐỘC LẬP CHO CÁC NƯỚC VÀ CÁC DÂN TỘC THUỘC ĐỊA, 1960. (Được thông qua theo Nghị quyết số 1514 (XV) ngày 1/4/1960 của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc). (3)

Một Nghị Quyết Đã Khiến Các Quốc Gia Thuộc Địa
Được Trao Trả Độc Lập Mà Không Đổ Máu

Vào thập kỷ 50’s, Liên Hiệp Quốc là một cơ quan với rất nhiều quyền lực, ngay cả đối với các chính quyền cộng sản. Nhờ Nghị Quyết sau đây với sự đồng thuận tuyệt đối của Đại Hội Đồng, tất cả các thuộc địa của châu Âu, từ Á sang Phi, đã được hoàn trả quyền tự trị và độc lập. Các láng giềng của Việt Nam như Mã Lai, Indonesia, Brunei, Mayanmar…đều hưởng độc lập mà không phải gây chiến với thực dân. Riêng dân tộc Việt Nam, 6 năm trước đó, dưới sự lãnh đạo của ông Hồ và đảng cộng sản đã hy sinh hơn 800 ngàn sinh mạng (có hồ sơ ghi hơn 3 triệu) để đánh Pháp dành độc lập. Có lẽ mình không biết kiên nhẫn như Mã Lai hay Indonesia? (3).
Đại Hội đồng,

Lưu ý đến quyết tâm đã được các dân tộc trên thế giới tuyên bố trong Hiến chương Liên Hợp Quốc nhằm tái khẳng định sự tin tưởng vào các quyền cơ bản của con người, nhân phẩm và giá trị của con người, quyền bình đẳng giữa nam và nữ và giữa các quốc gia lớn và nhỏ, đồng thời nhằm thúc đẩy tiến bộ xã hội và các tiêu chuẩn sống tốt đẹp hơn với sự tự do rộng rãi hơn;

Nhận thức sự cần thiết của việc tạo ra các điều kiện cho ổn định và phồn vinh cũng như mối quan hệ hòa bình và hữu nghị trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc và sự tôn trọng rộng rãi và tuân thủ quyền con người và những tự do cơ bản dành cho tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hay tôn giáo;

Thừa nhận sự khao khát cháy bỏng về tự do của các dân tộc phụ thuộc vào vai trò quyết định của các dân tộc đó trong việc giành được nền độc lập của họ;

Nhận thức rõ những xung đột đang tăng lên do sự chối bỏ hoặc những cản trở đối với con đường đến với tự do của các dân tộc này, đang gây ra sự đe dọa nghiêm trọng cho hòa bình thế giới; Xét vai trò quan trọng của Hiến chương Liên Hợp Quốc trong việc trợ giúp phong trào độc lập tại các lãnh thổ quản thác và chưa tự quản;

Thừa nhận rằng, các dân tộc trên thế giới mong muốn mạnh mẽ việc chấm dứt chủ nghĩa thực dân dưới mọi hình thức biểu hiện của nó;

Tin tưởng rằng, sự tiếp tục tồn tại của chủ nghĩa thực dân sẽ ngăn cản sự phát triển của hợp tác kinh tế quốc tế, gây trở ngại cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội của các dân tộc phụ thuộc và cản trở ý tưởng của Liên Hợp Quốc về một nền hòa bình cho toàn thế giới;

Khẳng định rằng, các dân tộc có thể, vì các mục đích của chính mình, tự do định đoạt nguồn của cải và tài nguyên thiên nhiên mà không làm ảnh hưởng đến bất kỳ trách nhiệm nào phát sinh từ việc hợp tác kinh tế quốc tế, trên cơ sở nguyên tắc đôi bên cùng có lợi và pháp luật quốc tế;

Tin tưởng rằng, tiến trình giải phóng là không thể thể cưỡng lại được và rằng để tránh những khủng hoảng nghiêm trọng, chủ nghĩa thực dân và tất cả những sự ngăn cách và phân biệt đối xử đi kèm theo nó phải bị kết thúc;

Hoan nghênh sự xuất hiện trong những năm gần đây của một số lượng lớn các lãnh thổ phụ thuộc trở thành tự do và độc lập, và thừa nhận những xu hướng mạnh mẽ đang tăng lên đối với tự do ở những lãnh thổ chưa giành được độc lập;

Nhận thức rằng, tất cả các dân tộc có quyền bất di bất dịch đối với tự do hoàn toàn và với sự thực hiện chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của mình;

Long trọng tuyên bố sự cần thiết thực hiện việc kết thúc nhanh chóng và không điều kiện chủ nghĩa thực dân cùng tất cả các hình thức biểu hiện của nó;

Và vì mục đích này

Tuyên bố rằng:

1. Sự nô dịch các dân tộc xuất phát từ ách cai trị, sự đô hộ và bóc lột của ngoại bang cấu thành sự phủ nhận các quyền cơ bản con người là trái với Hiến chương Liên Hợp Quốc và là một sự cản trở đối với việc thúc đẩy hòa bình và hợp tác trên thế giới.

2. Tất cả các dân tộc có quyền tự quyết xuất phát từ quyền này, các dân tộc tự do quyết định địa vị chính trị của mình và tự do theo đuổi sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa.

3. Việc thiếu sự sẵn sàng về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa không bao giờ được dùng như lý do cho việc trì hoãn (trao trả) độc lập cho các dân tộc.

4. Tất cả mọi hoạt động vũ trang hoặc các biện pháp đàn áp dưới bất kỳ hình, thức nào nhằm chống lại các dân tộc phụ thuộc phải bị chấm dứt để tạo khả năng cho các dân tộc đó thực hiện một cách hòa bình và tự do quyền độc lập hoàn toàn của họ, và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của họ phải được tôn trọng.

5. Các bước tiến hành phải sớm được thực hiện tại các lãnh thổ quản thác và chưa tự quản hoặc tại tất cả các lãnh thổ khác chưa giành được độc lập, để chuyển tất cả quyền lực cho nhân dân của những lãnh thổ nào mà không có bất kỳ điều kiện hay sự bảo lưu nào phù hợp với ý chí và nguyện vọng được bày tỏ một cách tự do của họ không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc, tín ngưỡng hoặc màu da, để tạo ra khả năng cho các dân tộc này được hưởng thụ nền độc lập và tự do hoàn toàn.

6. Bất kỳ cố gắng nào nhằm gây phá vỡ toàn bộ hay một phần sự thống nhất quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của một đất nước là trái với các mục tiêu và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc.

Như vậy, vào thời điểm đó nếu không có ông Hồ và ĐCSVN thì các tổ chức quốc gia khác như: Phong trào Cần Vương,Việt Nam Quốc Dâng Đảng (Nguyễn Thái Học), Việt Nam Quang Phục Hội Đông Kinh nghĩa thục (Phan Bội Châu), Phong trào Phan Chu Trinh: Trong số các sỹ phu đương thời và cả sau này, Phan Châu Trinh là người thấy rõ nhất những nhược điểm của con người và xã hội Việt Nam. Ông chủ trương phải thay đổi từ gốc rễ bằng cách nâng cao trình độ trí tuệ và đạo đức của người Việt, phát triển kinh tế - văn hóa, học những tư tưởng tiến bộ của Phương Tây, từ bỏ phong tục tập quán lạc hậu... Ông cho rằng Việt Nam phải phát triển kinh tế và giáo dục để tự lực tự cường, hội nhập vào thế giới văn minh rồi mới nên mưu cầu độc lập chứ không nên cầu viện ngoại bang dùng bạo lực để giành độc lập như chủ trương của Phan Bội Châu. Chỉ như vậy Việt Nam mới có nền độc lập chân chính trong quan hệ với ngoại bang còn nhân dân được hưởng tự do trong quan hệ với nhà nước. Để thực hiện chủ trương của mình, ông đã tổ chức phong trào Duy Tân và viết những bản kiến nghị gửi lên chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương đề nghị họ thực hiện cải cách.

Mùa hè năm 1906, Phan Châu Trinh về nước. Việc làm đầu tiên là gửi một bức chữ Hán (quen gọi là Đầu Pháp chính phủ thư) cho Toàn quyền Paul Beau vạch trần chế độ quân chủ chuyên chế thối nát, yêu cầu nhà cầm quyền Pháp phải thay đổi thái độ đối với sĩ dân nước Việt và sửa đổi chính sách cai trị để giúp người Việt từng bước tiến lên văn minh.

Sau đó, với phương châm "tự lực khai hóa" và tư tưởng dân quyền, Phan Châu Trinh cùng Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp đi khắp tỉnh Quảng Nam và các tỉnh lân cận để vận động cuộc duy tân. Khẩu hiệu của phong trào lúc bấy giờ là: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.

Thành ngữ có câu: “Người lương thiện thì không ai theo cộng sản, theo cộng sản thì không lương thiện” hoặc “Trí thức không ai theo cộng sản, theo cộng sản thì không phải là Trí thức”, cho nên đã có câu “ 20 tuổi mà đi theo Cộng sản là không có cái đầu, 40 tuổi mới từ bỏ Cộng sản là không có trái tim”. Hồ Chí Minh với một số kiến thức hạn hẹp, lúc ở Pháp trong một ngày u ám, Nguyễn Áo Quốc (tức Hồ Chí Minh) đã la lớn “Nó đây rồi” và bật khóc vì ông man mán hiểu mơ hồ về chủ ngĩa Mác Lê qua luận cương của Lénin mà chính ông đã tự thú:

“Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”! Từ đó, tôi hoàn toàn tin theo Lenin, tin theo Quốc tế thứ ba”.(Hồ Chí Minh toàn tập, T10,Tr127).

Căn cứ vào Hiến chương của Liên Hiệp Quốc và vào thời điểm mà toàn dân Việt Nam với tinh thần yêu nước cao độ, sẵn sàng hy sinh cho nền Độc Lập của Tổ Quốc, lúc ấy cho dẫu không có Hồ Chí Minh và ĐCSVN thì các tổ chức, các phong trào yêu nước vẫn đấu tranh và đi đến thành công. Và nếu như vậy thì Việt Nam đã không lâm vào cảnh hoàn toàn bi đát, nghèo đói, tụt hậu, mất Tự Do, Vô Dân Chủ, không Nhân Quyền thê thảm như hôm nay mà ĐCSVN (Đảng Cướp Sạch Vẹm Nô) đã gây nên, càng nguy hiểm hơn nữa là chúng đã bán nước cho Tàu cộng, đẩy toàn dân tộc một lần nữa vào vòng nô lệ.

Đảng cộng sản Việt Nam luôn tự hào là đã đánh thắng được 3 đế quốc, thực dân để được đội đít bảng xếp hạng danh sách của Liên Hiệp quốc và trở thành…ăn mày!. ĐVSVN tài đến thế là cùng.


Chú thích (1)

Chú thích (2)

Chú thích (3)

Chú thích (4)



ledinh.ca



























Free Web Template Provided by A Free Web Template.com