Nguyễn Ngọc Phan









































































































CHÚT HOÀI NIỆM
VỀ BẾN PHÀ RẠCH MIỄU

Nguyễn Ngọc Phan








Sau bao năm chờ đợi, nhẫn nại qua từng chuyến phà, sáng 19-1-2009, chiếc cầu dây văng đầu tiên nối hai bờ sông Tiền bao đời nay ngăn cách xứ dừa Bến Tre với đất Mỹ Tho được khánh thành. Điều nầy đồng nghĩa với việc phà Rạch Miễu chấm dứt vai trò của nó.

Niềm vui tràn ngập song cũng không khỏi chạnh lòng “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo. Nền cũ lâu đài bóng tịch liêu”

Phà Rạch Miễu được lập vào những năm đầu thế kỷ 20. Năm 1909 nó đã được nhắc đến Trong Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca của Nguyễn Liên Phong:

Qua sông Rạch Miễu có đò
Mỗi ngày hai chuyến vô ra hoài hoài.

Phà Rạch Miễu lúc bấy giờ là một chiếc sà lan do mấy chục người hì hục chèo. Phía bên kia là Rạch Miễu, thuộc làng Tân Thạnh, quận An Hóa, tỉnh Mỹ Tho (sau năm 1945 mới nhập vào Bến Tre). Còn phía bên nầy là đầu đường Général de Castelneu (nay là đường Nam Kỳ Khởi nghĩa). Bấy giờ xe cộ chưa nhiều, mỗi ngày chỉ có hai chuyến qua lại, chuyên chở xe kiếng, xe kéo của đám quan lại quyền quí. Còn khách bộ hành chủ yếu đi bằng đò bơi, đò chèo. Khoảng năm 1924, chiếc sà lan chèo mới được thay thế bằng những chiếc phà chạy bằng động cơ, do vậy mà nhiều người cứ lầm tưởng phà Rạch Miễu có từ năm ấy.

Mặc dù suốt thời Pháp thuộc, phà Rạch Miễu hoàn toàn nằm trong phần đất của Mỹ Tho, nhưng sách vở, tài liệu của Pháp viết về Mỹ Tho lại không thấy nhắc đến. Có lẻ chính quyền thực dân cho rằng nó không có vị trí quan trọng.







Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, 1975, cầu bắc dời về địa điểm mới: Chợ Đồng Sanh, phường 6, Mỹ Tho. Tại chỗ nầy, vào năm 1966, chính quyền Việt Nam Cộng hòa cất một ngôi chợ khá khang trang lấy tên là chợ Thanh Bình. Họ cũng đã có kế hoạch dời cầu bắc về đây nhưng không thành. Cầu bắc không dời được, chợ cất rồi nhưng vẫn vắng hoe, không ai tụ tập mua bán.. Còn cái tên Đồng Sanh là tên của một chiếc tàu thủy đưa rước khách khá quen thuộc đối với bà con Mỹ Tho. Nguyên vào đêm 23 tháng giáp Tết, đầu năm 1932, tàu Đồng Sanh bị ảnh hưởng của sự đoạt giang tại vàm Giao Hòa (ngang Chợ Gạo) làm hàng trăm người chết. Có một số xác chết không thân nhân nhìn nhận buộc nhà đương cuộc phải đem chôn cất trên một cái gò cao ráo, gọi là nghĩa địa Đồng Sanh. Thảm họa được khắc ghi trong ký ức người dân đến nổi cái tên hay ho chợ Thanh Bình cũng đổi thành chợ Đồng Sanh.

Sở dĩ nhắc tới địa danh này vì khu vực chợ Đồng Sanh xưa từng là nơi tôn nghiêm đạo đức, cửa Khổng, sân Trình. Đó là nhà Tỉnh học Định Tường, dân gian gọi là nền văn, là cơ sở giáo dục của tỉnh Định Tường thời phong kiến. Nhà Tỉnh học Định Tường lập năm Minh Mạng thứ 7 (1826), gồm có khu Văn miếu thờ Khổng tử và là nơi giảng dạy, học tập. Thời Tự Đức nơi nầy thuộc thôn Bình Tạo, tổng Thuận Trị, huyện Kiến Hưng. Dưới nhà tỉnh học Định Tường có nhà phủ học Kiến Tường ở Mỹ Trà (Cao Lãnh), nhà phủ học Kiến An (Tân Hiệp - Châu Thành) nhà huyện học Kiến Đăng ở làng Mỹ Trang (Cai Lậy) và nhà huyện học Kiến Hòa ở Tân Hóa (Chợ Gạo).

Học trò nhà tỉnh học được nhiều ưu đãi. Học trò ở đây được gọi là học sinh để phân biệt với học trò trường khác, đồng thời được cấp học bổng, lương thực sách vở. Tuy gọi là học trò song thực tế có nhiều người râu tóc đã bạc, vợ con đầy đàn đầy đống vẫn phải cắp sách đến trường. Học trò trường tỉnh học còn được ưu đãi nữa là nếu đã 40 tuổi mà đậu hai khoa tú tài thì được đặt cách cho thực tập rồi tùy thực tế mà bổ sung vào quan trường, trong khi thông lệ qui định Tú tài còn phải xách mâm chạy hiệu, tức làm học trò lễ khi có đình đám. Tuy vậy nhưng trong thực tế hạng nầy không có bao nhiêu người. Vào năm Tự Đức thứ 6 (1853) cả tỉnh Định Tường chỉ có 15 người được chọn vào ngạch học sinh. Người đời sau chỉ biết có Học Lạc ở Thuộc Nhiêu, Học Trung ở Ba Dừa và Học Điềm ở Trà Lọt…

Pháp chiếm Định Tường. Học sinh nhà tỉnh học, kẻ theo nghĩa quân tham gia các cuộc khởi nghĩa của Thủ Khoa Huân, Trần Xuân Hòa, người chán nản trở về quê làm nghề bốc thuốc trị bệnh giúp dân, hoặc mở trường dạy học. Các quan giáo cũng tham gia vào hàng ngũ kháng chiến. Đốc học Mạc Như Đông, huệ duệ của Mạc Thiên Tích đã vào quân thứ Chí Hòa ngay từ những ngày đầu. Ông lấy ngòi bút của mình làm vũ khí chiến đấu. Bài hịch của ông có đoạn viết:…Việc nước lấy an dân làm trước, chẳng đặng đừng nên thấy việc dùng binh. Ra quân tua thệ chúng ấy đầu, có như vậy mới đồng lòng đánh giặc…”

Từ đó, nền văn vắng bóng học trò lui tới.

Phía trong nền văn là đàn Xã tắc. Đàn xã tắc là nơi thờ thần Đất và các thổ thần, địa kỳ.. Đàn xây dựng năm Minh Mạng thứ 14 (1833), cửa quay về hướng bắc. Xây dựng cùng lúc với đàn Thần Nông ở làng Điều Hòa, nhưng đàn xã tắc qui mô hơn. Đàn có hai tầng: tầng trên thờ trời, hình tròn. Tầng dưới thờ đất, hình vuông.

Qua khỏi phà Rạch Miễu khoảng một cây số về hướng xã Bình Đức, phía bên trái có một ngôi miếu, mấy năm trước xung quanh còn lỏng chỏng vài viên đá cổ, đó là di tích của miếu Hội Đồng. Nguyên thuỷ, miếu được xây dựng vào năm Gia Long thứ 7 (1808) tại thôn Mỹ Chánh huyện Kiến Hòa. Đến năm 1842, đời Thiệu Trị dời về đây, tức thôn Bình Tạo huyện Kiến Hưng. Đầu tiên ngôi miếu bằng gỗ, lợp tranh. Đến đời Thiệu Trị, Tự Đức mới lợp ngói, theo qui chế: Chính đường 3 gian 2 chái, Tiền đường 5 gian 2 chái. Miếu Hội đồng là ngôi miếu thờ chung các vị thần nam nữ được sắc phong từ thượng đến trung, hạ đẳng được thờ ở các đình làng trong tỉnh. Theo Đại Nam Hội điển sự lệ, vào các đời Thiệu Trị và Tự Đức, miếu Hội Đồng Định Tường được cấp 64 đạo sắc phong tặng cho 32 thần hiệu. Miếu Hội Đồng có hai Tự thừa quản lý và 20 miếu phu trông nom, quét dọn. Hàng năm xuân thu nhị kỳ, các quan đầu tỉnh phải tổ chức tế lễ long trọng. Đến thời Pháp thuộc, cơ sở tín ngưỡng nầy bị quên lãng. Sắc phong đem về Mỹ Chánh và Phú Hội. Đất đai do người Pháp chiếm đóng, Sơn hà không còn thì Xã tắc cũng không lấy chi làm bền vững. Vì không có mái che và không người bồi đắp nên đền xã tắc bị hư hoại rất nhanh. Hội tề làng Bình Tạo bèn sung phần đất nầy vào công thổ. Song mấy chục năm sau, nhiều người vẫn còn nhớ di tích của tiền nhân, không ai dám lĩnh canh phần đất ấy. Suốt thời gian Pháp thuộc, nền Xã tắc vẫn còn là mảnh đất hoang vu.

Ngôi miếu bị suy sụp cho đến khi thành lập khu công nghiệp Bình Đức thì di dời sang một điểm gần đó. Hiện nay miếu được tôn tạo bằng nguyên vật liệu hiện đại, truyền thống cũ không còn.

Cầu khánh thành xong, phà Rạnh Miễu kết thúc sứ mạng đưa khách sang sông. Người ta ngậm ngùi nhớ những chuyến phà, ít ai quan tâm một lớp di chỉ tiền nhân nằm ở đó.


Nguyễn Ngọc Phan






























































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com