<BGSOUND src="Nhac Bai.mp3"> Le Dinh





Nguyên Trần









































































































Tôi đọc truyện
“Cái chết của một dòng sông”
của anh Uyên Sơn Nguyễn Kim Sơn

Nguyên Trần








Trong
đời tôi đã có nhiều lần đọc truyện: Tôi đọc truyện Trà Nguyễn (giáo sư Đệ Nhị Cấp Trung Học Vĩnh Bình), Tôi đọc truyện Nguyễn thị Lộc (hiền thê của bạn đồng khóa QGHC ĐS11 Lê Phụng Chữ), Tôi đọc truyện Bửu Uyển (bạn đồng khóa QGHC ĐS11), Tôi đọc truyện Phùng Nhân (bạn đồng môn Trung Học NĐC Mỹ Tho, Tôi đọc truyện Xuân Đ̃ỗ (bạn đồng môn QGHC), Tôi đọc truyện Tường Lam (bạn đồng môn Trung Học NĐC Mỹ Tho), Tôi đọc thơ Dương Quân (tức Dương văn Vàng bạn đồng môn QGHC), Tôi đọc thơ Lưu Nguyễn Từ Thức (tức anh Nguyễn Minh Triết bạn đông môn QGHC), Tôi đọc thơ Như Thương (người em gái duyên dáng dễ thương từ miền nắng ấm Florida)

Và hôm nay trong thởi tiết đầu Xuân rực rỡ với ngàn hoa hương sắc, tôi được vinh hạnh đọc tác phẩm “Cái chết của một dòng sông” của một người bạn đồng hương đồng môn Trung Học NĐC Mỹ Tho tài hoa, đó là pháo thủ Uyên Sơn Nguyễn Kim Sơn.(pháo thủ rót rất khéo không nhầm nhà ai mà chỉ trúng giàn thiên lý gần nhà thôi. Ha! Ha! Ha!)

CÁI CHẾT CỦA MỘT DÒNG SÔNG là một tuyển tập truyện thơ dài 251 trang gồm 15 truyện ngắn và 11 bài thơ. Đặc biệ̉t truyện “Buổi sáng ba mươi trên dòng sông Măng Thít được tác giả viết bằng song ngữ Việt Anh.

Tập truyện được in ấn bởi KV Printing, 9371 Kramer Ave. # E

Westminster, CA 92683 - USA.

Tự nãy giờ hoa lá cành trăng lên lều vải hơi nhiều hay nói theo kiểu bình dân học vụ là sắm tuồng lâu quá mà hổng biết hát có hay hôn, thôi bây giờ xin mở màn nha.

Kể từ sau cuộc đổi đời bi thảm 30 tháng 04 năm 1975, trận đại hồng thủy đã nhận chìm miền Nam trong máu lửa điêu linh, nhân tâm chia lìa, gia đình ly tán và đưa đẩy trên 2 triệu người Việt Nam Tị Nạn Cộng Sản đã bỏ phiếu chọn lựa chế độ bằng đôi chân, bằng chiếc ghe để sống đời ly hương phiêu bạt ở khắp nơi trên thế giới. Từ đó, cộng đồng Việt Nam hải ngoại phát sinh một hiện tượng tích cực đáng mừng là có nhiều nhà văn nhà thơ mới mà nếu chúng ta không mất nước thì chưa hẳn họ đã trở thành người viết.

Có lẽ bắt nguồn từ nhu cầu viết để bày tỏ những ưu tư trăn trở, những đau thương phẫn hận của chính họ, của bạn bè quen biết và của cả một quê hương dân tộc. Từ ngàn xưa, sự đau khổ bao giờ cũng là nguồn cảm hứng bất tận. Từ đó, kho tàng văn

học hải ngoại có thêm những tác phẩm giá trị của những tên tuổi như: Trường Sơn Lê Xuân Nhị, Vũ thị Dạ Thảo, Nguyễn văn Ba, Phạm Tín An Ninh, Phạm Thành Châu....và pháo thủ Uyên Sơn Nguyể̃n Kim Sơn người bạn lối xóm Ngã Tư Quốc tế Mỹ Tho của tôi.

Dưới đây là những cảm xúc tôi viết ra khi đọc tập truyện truyện thơ “Cái chết của một dòng sông” của anh Uyên Sơn. Lẽ dĩ nhiên là cảm xúc thì không thể nào tránh được phần chủ quan, do đó xin các bạn bỏ qua cho nếu không đồng ý với cái nhìn của tôi trong tinh thần đồng môn đọc truyện đồng môn.

Đ̀ể bài nhận định có bố cục mạch lạc, tôi xin phăn tích tập truyện làm hai phần:

1) Hình thức: Trình bày trang nhã, khoảng cách các chữ rộng rãi dễ đọc. Trang bìa in hình chiếc nón sắt với bờ lau sậ̣y đúng như bài hàt Người Tình Không Chân Dung của nhạc sĩ Hoàng Trọng

“Hởi người chiến sĩ đã để lạ̣i cái nón sắt bên bở lau sậy nầy” được đạo diễn Hoàng Vĩnh L̀ộc dựng thành phim vào năm 1971 với hai đại tài tử Kiều Chinh và Trần Quang.

Những trang cuối gồm những hình ảnh sinh hoạt liên hệ bạn bẻ thân hữu, đặc biệ́t pháo thủ Uyên Sơn rất đẹp trai phong nhã, không biế́t có pháo kích trúng người đẹp nào không?

Tưởng cũng nên nói thêm là tập truyện thơ được tái bản tới lần thứ ba nên cũng được xem là Top Hit Selection. Xin congratulations nhà văn nhà thơ. (mặc dù anh Uyên Sơn với bản tính khiêm nhường không muốn được gọi như vậy nhưng tôi cứ gọi như vậy vì tôi thấy như vậy)

2) Nội dung: Trong phần đầu nói về Hà Nội 36 phố phường từng một thời nổi tiếng là vùng đất ngàn năm văn vật mà bây giờ thỉ “lưu lượng xe đạp của Hà Nôi có lẽ chiếm kỷ lục thế giới”.

Trời! CHXHCNVN ơi! Sao mà người nghèo đói đến thế? Phải chăng đây là thành quả ưu việt tiên tiến của cái gọi là VC?

Cây Cầu tối tân nhất ở Bắc Việ́c là cầu Long Biến (Paul Doumer) do hãng Eiffel Phảp xây cất, bây giờ thì “chỉ còn là mảu đo đỏ xám xám cùa chất rỉ sét tới độ không còn rỉ sét được nữa” Phải! Cái bọn VC ngu đần dốt nả́t nghẻo đói mạt rệp thi lấy đâu ra kỹ thuật khoa học và kinh phí mà tu bổ tân trang.

Nhưng điều kinh tởm gớm ghiếc lợm giọng nhất là gần như toàn bộ thủ đ̀ô Hà Nội còn “can đảm” xài cầu tiêu thùng dòi bò lúc nhúc. Trong thế kỷ thứ 21 khi mà thiên hạ sắp du lịch cung trăng thì trên thế giới nầy, chắc chỉ có bọn VC man rợ lì lợm còn lẹt đẹt xử dụng phương tiện tiền sử lạc hậu và mất vệ sinh như vậy. Đó cũng là thành tích tệ hại của bọn “đánh cho Mỹ cút đánh cho Ngụy nhào”.

Tôi hoàn toàn không biết bằng cách nào mà chúng sống lối ăn lông ở lỗ như vậy cho được. Và cũng không hiểu miracle nào mà chúng không bị bịnh dịch tả, hay là trong cơ thể chúng được miển nhiễm chất dơ. Và khi đoàn xe lửa cố lỗ sĩ gần phế thải chở đám tủ̀ cải tại ngang qua thủ đô Hà Nội thì đám tù nhân trông thấy “một thủ đ̀̀̉ô nghèo nàn tâm tối bần cùng qua làn khói xám xịt cùa chiếc đầu máy xe lửa chạy bằng hơi nước và than đá”

Xin nhớ cho rằng xe lửa chạy bằng hơi nước và than đá được xử dúng vào thế kỷ thứ 19 mà nay ở thế kỷ thứ 21, bè lũ con chắu thằng đại hồ gian dâm tặc còn xài nó thì hết biết.

Ngoài ra còn ngạc nhiên ngỡ ngàng khi nhìn thấy “thủ đô Hà Nội nghèo nàn tăm tối là những dãy nhà tranh vách đất xiêu vẹo, những dãy phố loang lổ rêu xanh, những chiếc cầu tiêu thùng đầ̀̀y ắp phân người hôi thôi và đầy ruồi nhặng. Đó là những tiêu biểu cho thủ đô Hà Nội, cho một nên văn minh tuyệt vời xã hội chủ nghĩa”.

Quả thật đúng là khuôn mẫu cho nên văn minh tiên tiến cho đỉnh cao trí tụệ loải người của cái quái thai thời đại VC.

Với niềm thương cảm cho quê mẹ bất hạnh cũng như thủ đô Hà Nội, tác giả đã chua chát bày tỏ :”Trong những giọt nước mắt cho quê hương Việt Nam thống khổ, xin dành riêng một giọt nước mắt cho thủ đô Hà Nội...”

Thỉnh thoàng trong bài viết người đọc cùng thấ́́y nhưng câu văn trong sáng nhẹ nhàng tả cảnh miền quê tuyệt vời ”Trời bắt đầu sáng hẳn, những tia nắng đầu ngày đang chíếu ánh sáng nhè nhẹ xuống cánh đồng mới gặt còn trơ lại những gốc rạ trên mặct ruộng vừa ráo nước. Vài hạt sương đêm còn đọng trên những cành lúa lép sót lại sau vụ gặt, chiếu long lanh như những hạt kim cương”

Ngoài ra Uyên Sơn cũng không quên ghi lại điểm son của chế độ Cộng Hòa qua chính sách Người Cày Có Ruộng “ Nhưng một chuyện mà Bác Năm không bao giờ ngờ sẽ xảy ra trong đời ông là ông đã thực sự làm chủ miếng ruộng ba mẫu đó qua chương trình Người Cày Có Ruộng của chính phủ Cộng Hòa”.

Nhằm mục đích đày đọa người dân mệt mỏi kiệt lực để không còn tinh thẩ̀n hơi sức chống chính quyền, bọn VC bắt dân đi làm sâu, công tác thủy lợi, đâo kinh lấp sông như ngăn lấp khúc sông Cái Tàu. Đây là việc làm trái với thiên nhiên tạo hóa mà tất cả người dân đều bất mãn “Cái sông cái núi là của Đất Trời tạo ra. Tụi cãi trởi cãi đất, dời sông lấp núi sao trời không tru đất không diệt chúng nó hết cho rồi”

Phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam là tôn kính những nơi thờ phượng linh thiêng như đình chùa miễu... nhưng với bọn vô thần VC thì không “ Ngôi đình Tân Lợi lợp lá để người dân cúng kiến trong các lễ hội Kỳ Yên cũng bị dẹp bỏ để làm trụ sở Ấp và nhà hội dân”.

Sau cuộc đổi đời tang thương dâu bể chết chóc oán hờn trong tháng Tư Đen 1975, biết bao tài sản của cải vật chất, bấ́́t động sản quý giá của ngườ dân Miền Nam đã bị bon cướp ngày có môn bài VC vét sạch sành sanh để chở ra Bắc trở thành triệu phú đỏ mà Bác Năm là một nhân chứng sống “ Nhưng Bác Năm nghĩ những cái mất mát đó của vợ ch̀ông ông chẳng có là bao khi so sánh với những người giàu có gấp triệu lần ông giờ chỉ còn tay trắng phải lang thang lếch thếch ngoài tỉnh ngoài thành”.

Thảm cảnh nhờ Cách Mạng mà “Thằng lên Ông, Ông xuống Thẳng” đã xảy ra nhan nhản trong xã hội mới “ Biết bao nhiêu ngưởi có ăn có học (trí thức khoa bảng) từng làm ông nầy chức nọ mà bây giờ đi tù cải tạo, cuốc đất trồng khoai, quần áo rách nát, thân thể chỉ còn da bọc xương, đói rách bần cùng.”

Đầu đường Đại Tá vá xe
Cuối đường Thiếu Tá bán chề đậu đen

Nhưng cái đau đớn nhất của Bác Năm lả bọn VC lắp sông Cái Tàu “Nhưng khi nghe tin dòng sông thân yêu của ông bị lắp bỏ, lòng Bác Năm đau như cắt, hơn cả khi ông nghe tin miếng ruộng bị tịch thu và hay tin thằng con của ông bị mất tích. Cuộc sống của Bác Năm đã gắn liền với dòng sông Cái Tàu nầy, tình cảm mộc mạc của ông đã gởi trọn với dòng nước trong xanh đang lững lờ theo hai con nước lớn ròng lên xuống. Niềm vui của ông là những đám lục bình màu tím nhạt trôi lênh đênh trên sông nước hiền hòa”

Đó! Bản chất thật thà tình cảm bao la của người dân quê miền Nam nó bình dị mộc mạc như vậy đó.

Bọn người chiến thắng đã trả thù người chiến bại qua hình thức đày đọa khổ sai lao nô “ Nhìn đám thanh niên trai trẻ đang chôn vùi cả tuổi thanh xuân trong lao động kham khổ nhọc nhằn cho những kế hoạch điên rồ ngu xuẫn, Bác Năm cảm thấy nao nao thương cảm trong lòng”.

Không có hình ảnh nào thương tâm não lòng hơn cái cảnh nhửng người tù cải tạo xanh xao ốm yế́u đang lao động khổ sai dưới sự nạt nộ đánh đập tàn nhẫn của bọn cán bộ̀ VC “ Bác Năm nghĩ cái xuống dốc của cuộc đời ông đâu bằng cái ngã ngựa đau thương của những người tù cải tạo. Họ ngã ngựa xuống tận cùng của đất đen, xuống tận cùng cùa vực thẳm cuộc đời”.

Trong thời binh lửa của cuộc chiến Quốc Cộng, người pháo thủ cũng như người lính Cộng Hòa làm gì có mùa Xuân.

Có lẽ đối với lính, mùa Xuân là mùa buồn nhất. Theo truyền thống thiêng liêng của dân tộc, Tết là thời gian gần gủi sum họp gia đình, dù ai bôn ba xuôi ngược nơi xa xăm nào thì ba ngày Tết cũng phải cố sắp xếp mà về quay quần với những người thân yêu trong khói hương đón tiếp tổ tiên ông bà đã khuất. Người lính chẳng những không có cái hạnh phúc vui vầy đó mà lại càng phải vất vả khổ nhọc hơn trong sứ mạng bảo vệ an ninh xóm làng cho mọi người đón Xuân. Có nhiều lúc, từ tiền đồn nơi rừng núi xa xôi, cách biệt hẳn chốn phồn hoa đô hội, người lính còn không biết là mùa xuân đã về: Đồn anh đóng ven rừng mai
Nếu mai không nở, anh đâu biết xuân về hay chưa? (Đồn vắng chiều xuân - Trần Thiện Thanh)

Giữa lúc muôn người nô nức đón xuân sang với pháo đỏ rượu hồng, với cao lương mỹ vị, với muôn hoa rực rỡ, với lời chúc tốt đẹp thì lính:

Đón giao thừa một phiên gác đêm
Chào xuân đến súng xa vang rền (Phiên gác đêm xuân - Nguyễn văn Đông)

Trong hoàn cảnh chung như vậy thì anh phảo thủ Nguyễn Kim Sơn cũng không hơn gì. Hãy đọc lá thư anh viết cho người bạn đời “Anh chỉ là ngưở̀i lính pháo binh đem thân bọt bèo râ biên ải hầu mong giữ vẹn tấc đất ngọn rau. Anh đâu có những mùa Xuân thơ mộng đâu em.”

Hay ngậm ngùi hơn “ Mùa Xuân của anh không có mai đào, không có cúc vạn thọ, mà chỉ là những đóa hoa dại màu vàng mọc ngơ ngác dưới chân những cây cọc dấu sơn màu đỏ trắng cắm rải rác xuyên qua những dãy giao thông hào mà nơi đây mộ̀t người pháo thủ đồng đội vừa nằm xuống trong đêm trừ tịch hôm qua cạnh những cụm hoa vàng tan tác để về với một mùa Xuân vĩnh cửu”.

Mùa Xuân của lính chỉ là - người pháo thủ tâm tình tiếp trong lá thư viết từ biên thùy “Mùa Xuân của anh như vậy đó em, mùa Xuân cùa buồn hiu buồn hắt, mùa Xuân của thương nhớ mông lung, mùa Xuân của miệt mài gian khổ”.

Nhưng sau cùng cũng là một hy vọng vào một tương lai quê hương không còn tiếng súng mà thay vào đó là “ Nhưng đời đâu chỉ có một mùa Xuân thôi. Xuân nây anh đón bằng những tíếng súng vang rền thì mong Xuân tới, anh sẽ đón Xuân bằng những bánh pháo dòn tan trong nắng sớm. Anh sẽ đem về cho Mẹ những nu trà xanh và em những đóa hoa hồng để đón chờ nụ cười của Mẹ và của em bên chiếc ba lô đượm mùi nắng sạm. Đợi chờ anh em nhé!”


Nguyên Trần


phat1942@gmail.com






























































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com