Muốn liên lạc với tác giả
xin bấm vào hình trên










































































































Khánh Lan





"Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương"
"To wake at dawn with a winged heart and give thanks for another day of loving” (Kahlil Gibran)



Ngày còn trẻ chúng ta thường có khuynh hướng thưởng thức thơ và sáng tác thơ theo sự rung động nơi con tim đầy nhiệt huyết, yêu đời, của lần đầu biết thế nào là vẻ đẹp của thiên nhiên, cái gì là mộng mơ ao ước và tại sao lại gọi là lãng mạn say mê? Nhưng khi chúng ta bắt đầu bước vào độ tuổi "Thất thập cổ lai hy" thì ta lại tìm về một thế giới thanh tịnh hơn để ngao du và thưởng ngoạn trong vườn thơ với những áng thơ nhẹ nhàng, thanh thoát và tĩnh lặng. Ấy chính là "Thiền thi".

Vậy Thiền thi tịnh tâm là gì?

Thiền thi là thể loại thi ca với nét thư thái tĩnh lặng, nhẹ nhàng của nét thanh tao tâm linh. Thiền (zh. chán 禪, ja. zen) là Thiền-na (zh. chánna 禪那, sa. dhyāna, pi. jhāna, ja. zenna, en. meditation), là thuật ngữ Hán-Việt được phiên âm từ dhyāna trong tiếng Phạn. Dhyāna là danh từ phái sinh từ gốc động từ √dhyā (hoặc √dhyai). Bộ Sanskrit-English Dictionary của Monier-Williams ghi lại như sau: To think of, imagine, contemplate, meditate on, call to mind, recollect.

Thiền trong triết học Ấn Độ dưới gốc tư duy, tập trung lắng đọng tìm thấy từ dịch ý Hán-Việt là Tĩnh lự (zh. 靜慮). Các cách phiên âm Hán-Việt khác là Đà-diễn-na (zh. 馱衍那), Trì-a-na (持阿那). Thiền là sự kết hợp giữa thân thể và ý niệm trong thời gian-không gian hiện tại để nhận biết sự vật, hiện tượng và ý niệm.

Thiền thi Nhật ban đầu cũng chịu ảnh hưởng từ Trung Hoa, nhưng đến thế kỷ thứ 17 thì thể thơ Haiku ra đời và phát triển mạnh vào thế kỷ thứ 19. Người sáng lập loại thơ này là Thiền sư Matsuo Basho. Năm 1680, Matsuo Basho viết bài thơ “Con ếch” theo lối Haiku, một thể thơ mới mở đường cho thể thơ Haiku. Các bài Haikai của Basho ngắn, gọn, súc tích từ chữ đến ý, nghiêm trang, chín chắn hơn để dần trở thành thể Haiku, nói lên cái quan niệm và ghi lại sự rung động của nhà thơ.

Fu ru i ke ya (Trong ao xưa)
Ka e ru to bi ko mu (Con ếch nhảy vào)
Mi zu no o to (Tiếng nước khua)

Haiku âm theo lối chữ Kanji (gốc chữ Nho) là bài cú. Chữ "hai" nghĩa là "bài", trong tiếng Hán Việt có nghĩa "phường tuồng". Chữ "ku" là "cú" hay "câu". Haiku là loại thơ độc đáo, rất thịnh hành của Nhật Bản và là loại thơ ngắn nhất trên thế giới. Một bài thơ theo thể thơ Haiku có ba dòng theo dạng 5-7-5, tổng cộng 17 âm. Tiếng Nhật Bản đa âm, nên mỗi dòng có thể có một, hai, ba chữ hay nhiều hơn. Haiku có biến thể là 5-7-6 hay 5-8-5, lên 18 âm trọn bài. Tiếng Việt đơn âm, nên mỗi chữ là một âm. Không cần vần điệu nhưng thơ Haiku là sự kết hợp giữa màu sắc, âm thanh, tượng hình có chọn lọc. Dù chỉ là một bài thơ ngắn gọn nhưng nhà thơ đã dẫn dắt chúng ta bước vào một cõi tư duy vô cùng bát ngát, một chân trời sáng tạo rộng mở mà người đọc cần có một sự tưởng tượng dồi dào phong phú. Ngày nay thơ Haiku không gò bó số chữ trong mỗi, không nhất thiết phải chấm, phết hoặc chấm phết tuỳ tiện, không cần đặt tựa, không bắt buộc phải có từ của mùa. Chỉ giữ lại hình thức 3 câu, và được đưa vào những từ ngữ chải chuốt, những ẩn dụ của cái hữu hạn và vô hạn...

Trong bài viết của giáo sư Michiko Yoshida nhận định về loại thơ thiền Haiku như sau: Ðó là nhìn sự vật đơn giản, thuần khiết, một quan hệ biện chứng giữa tĩnh và động, một tiếng chuông chiêu mộ thức tỉnh ngộ tính con người. Thi nhân ghi lại những bức xúc của mình đối với sự biến chuyển trong khoảnh khắc của thiên nhiên đang xảy ra. Haiku là một nghệ thuật tổng hợp tinh tế tuyệt vời giữa Phật giáo và Lão Giáo trong thế giới Thiền thi, giữa cụ thể và trừu tượng, giữa ẩn dụ và phân tích, giữa thiên nhiên vũ trụ và nội tâm con người. Vạn vật và vũ trụ đều có nguồn gốc từ Đạo, theo sự sinh hóa vô thường và kiếp người cũng chỉ là phù sinh hư ảo. Điều nói ra được thì hữu hạn, mà ý lại vô hạn. Trong thơ Haiku có sự dung hợp giữa Thiền và Thơ, vì thơ biểu lộ tình cảm và thơ có thể tải đạo. Thơ Haiku đi từ một sự vật cụ thể thật nhỏ nhoi tầm thường, dẫn dắt người đọc đi vào cõi mênh mông bát ngát không hình tượng như một thiền sư đã nói, "Gom góp tất cả lời nói để hoàn thành một câu, vò cả đại thiên thế giới thành một hạt bụi". Nhà thơ William Blake cũng có nói : “Cả vũ trụ trong một hạt cát.” (a world in a grain of sand).

"Từ trong hạt bụi ngu ngơ ấy
Mưa nắng vô thường sây sát nhau."

Ðể người thơ đốn ngộ được:

"Từ trong hạt cát hằng sa đó
Vũ trụ Chân Như sáng nhiệm mầu ."

Sau đây là 3 bài đơn cử tiêu biểu cho thơ Haiku của người Nhật, tôi xin dùng ý thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan theo thể Haiku dạng 5-7-5 như sau:

Đèo Ngang bóng xế tà
Chân núi lác đác có mấy nhà
Nhớ nước kìa chim cuốc.

Bài thơ Haiku thứ hai mượn ý bài thơ “Tiếng Thu” của Lưu Trọng Lư, dạng 5-3-5:

Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng
Đạp trên lá vàng khô.

Bài thơ thứ ba nguyên tác Pháp ngữ La dernière feuille của thi sĩ Théophile Gautier, được chuyển thể sang thơ Haiku dạng 4-2-4:

Khu rừng trơ trụi
Lá thu
Chiếc lá cuối cùng.

Đấy là 3 bài thơ Việt và Pháp nổi tiếng khi ta chuyển thể sang Haiku dạng thức Việt ngữ. Ý thơ haiku thiền tĩnh về thiên nhiên.

Vậy chúng ta có thể định nghĩa "Thiền thi" như sau: Thiền là sự bất động của "sáu căn" không phóng dật, không lôi kéo dính mắc bởi sáu pháp trần gian bên ngoài thân ngũ uẩn, gây nên sự ham muốn thích thú đam mê. Thiền (tĩnh lặng) là phép tĩnh tâm giúp loại trừ phiền não và khai mở tâm trí con người, gạt bỏ mọi tạp niệm để nhận thức bản ngã và thế giới xung quanh. Thiền thi không hẳn là chỉ nhắc vài từ ngữ nhà Phật là đủ mà nó còn phải chất chứa, ẩn dụ trong tư duy sâu thẳm, lối đi về thiên cổ vượt tới bến bờ Bát Nhã Chân Như.




Thi sĩ Thái Tú Hạp trong bài viết về “TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO TRONG THI CA VIỆT NAM” tháng Tám năm 2010, thi sĩ cho rằng tư tưởng Phật Giáo đã thấm nhuần trong tâm hồn Dân Tộc Việt, Đạo Phật đã gắn liền với giòng Văn Học và cùng với sinh mệnh thăng trầm của Dân Tộc đã gần hai mươi thế kỷ. Tư tưởng Phật Giáo đã hiện hữu trong mạch sống dân tộc ngay từ những khởi nguyên Trung Tâm Phật Giáo Luy Lâu do Ngài Mâu Tử đến từ Ấn Độ khởi dựng, phát huy song song với hai trung tâm Phật Giáo của Trung Hoa là Lạc Dương và Bành Thành, khoảng đầu kỷ nguyên Tây Lịch. Qua nhiều thế kỷ, Phật Giáo càng ngày càng phát huy rộng lớn, ngày nay, với thể tính triết học, khoa học, tâm lý nhân sinh. Tư tưởng Phật Giáo đã thấm thấu vào tâm hồn, hiện hữu trong đời sống của dân Việt, từ những câu kinh tiếng kệ, hồi chuông ngân, tiếng trống Bát Nhã, trầm hương nghi ngút trong tĩnh mịch trầm lắng.

Theo Nguyễn Vy Khanh, Thiền thi khởi đầu từ những bài thi phú của các Thiền Sư đời nhà Trần thuộc Trúc Lâm Yên Tử và được lưu truyền cho đến cuối thế kỷ thứ 19 và 20, văn học sử Việt Nam tiếp thu những giòng văn học của thế giới và ý thức mới về văn học nghệ thuật dân tộc. Nhưng các nhà văn, nhà thơ Việt Nam đã ảnh hưởng sâu đậm những chất liệu tinh hoa của Phật Giáo và được ghi nhận trong những tác phẩm của các nhà văn trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn, Võ Phiến, Mai Thảo, Du Tử Lê, Minh Đức Hoài Trinh, Duy Lam, Nguyên Sa, Nghiêu Minh, Nguyễn Mạnh Trinh, Luân Hoán, Vi Khuê…Văn học miền Nam thời 1954-1975 đã có những bài thơ Thiền của Quách Tấn, Hoài Khanh, Trụ Vũ, Phạm Thiên Thư, Bùi Giáng, Nhất Hạnh, Phổ Đức, v.v...Sau này, chúng ta thấy thơ Thiền xuất hiện mọi nơi, khi vui, lúc buồn, khi đau khổ và ngay cả nơi chốn lao tù như trong thơ của Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Xuân Thiệp, Cung Trầm Tưởng, Du Tử Lê, Thái Tú Hạp v.v...Vậy thì, có phải người ta sáng tác thơ thiền vì đó là một lối thoát giúp vượt qua sự khổ đau, để tồn tại hay để lưu giữ một hạnh phúc còn xót lại trong cuộc sống? Thơ Thái Tú Hạp bao gồm nhiều lãnh vực nhưng trong bài biên khảo này, Khánh Lan chỉ xin bàn về:

Thiền Tính Trong Thơ Thái Tú Hạp:




Thơ Thái Tú Hạp thuộc truyền thống mỹ học Thiền, một tổng hợp giữa thơ và thiền, của nhân tâm, của cõi Chân Như. Nét thiền tính trong thơ của Thái Tú Hạp qua những thi tập như Chim Quyên Lạc Đàn (1982), Miền Yêu Dấu Phương Đông (1987) và Hạt Bụi Nào Bay Qua (1995) cho thấy rõ nét uyên ảo, tôn kính, ông đã chọn ngôn ngữ cửa Phật và chốn tu hành để diễn tả ngôn ngữ nghệ thuật trong Thiền thi của ông. Điều này đã thể hiện rõ ràng qua những lời thơ sau:

“... chân tâm mãi hướng về.
Tiếng chuông còn vọng lạc
Bên vực đời u mê..."

Hay:

“…Nhất quán rồi- mộng mai sau,
Tâm vô lượng mở - có nhau luân hồi…”

Thế giới thiền thi của Thái Tú Hạp chất chứa đầy tính thiền qua những chữ Luân Hồi, Bồ Tát, Tiếng chuông, phù vân, vô ngã, cõi tạm, hư ảo, vô thường, v.v…Với ông, sự sống, hơi thở, tâm hồn hầu như được thoát ra khỏi mọi ràng buộc trong một tinh thần phá tâm vọng ngã bởi cuộc sống rất ngắn ngủi, cái chết chẳng đợi ai, nên hãy an trú trong hiện tại. Có lẽ với ông, trạng thái Niết Bàn là hạnh phúc tìm thấy, tìm về cõi “Nguyên xuân” của kiếp người, quay về với tự thân của cuộc sống đời thường, thích ứng với giáo lý của nhà Phật: “Tâm viên, ý mã”. Chắc hẳn Thái Tú Hạp đã nhận chân ra được chỉ có hạnh phúc thật sự là ở trong tâm nên ông đã sống một cuộc đời không bon chen, không danh lợi, ông tìm vui trong những gì đơn sơ giản dị, một cõi thơ lắng dịu, một chút tư duy.

“..Gió cát ngàn dặm xa, ta làm thân mục tử
Ngủ say trên đồi hoa, bỏ quên đời hư ảo...”

Trong kinh Hoa Nghiêm, Phật dạy: “Nhất thiết duy tâm tạo”. Thi sĩ Thái Tú Hạp đã rất khéo léo vận dụng ngôn ngữ của Phật giáo vào trong thơ của ông, trở lại quê nhà ở đây không khác là trở lại với chân tâm, chính nơi đây mới là hạnh phúc và giá trị của hạnh phúc. Theo quan niệm của đạo Phật, cuộc sống của một kiếp người là đau khổ, với sinh lão bệnh tử ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc…Thế gian là cõi tạm, cuộc sống là vô thường, biến hoại, không hằng hữu, chỉ có “Chân tâm”, chỉ có quê nhà mới thật sự là nơi êm ấm, là chốn bình yên, là hạnh phúc ở mãi trong tâm.

"... Em hỏi ta căn nhà vĩnh cửu?
Ta soi tâm thấu triệt vô thường…"

Hoặc:

“…Vô tâm nhờ tinh thần vô ngã và nhờ vậy ngộ bất chợt, không chờ, không tính toán… "

Thiền thi của Thái Tú Hạp ảnh hưởng bởi triết lý Phật giáo và Lão giáo, những từ ngữ trong thơ của ông đượm tinh thần Phật giáo như ông nhận ra được cuộc sống này là “hư vô”, là không thật, là hữu hạn, là biến đổi. Phần lớn từ ngữ hoặc tư tưởng trong thơ của thi sĩ Thái Tú Hạp phảng phất những thuật ngữ Phật giáo như: Bồ tát, hoa-nghiêm, thiền, vô thường, hóa thân, trầm luân, hằng sa, trang kinh, đại hồng chung, sắc-không, chân không, nghiệp, vọng niệm, sát na... Có lẽ Thái Tú Hạp cảm nhận điều này nên ông đã làm một kẻ lữ hành không vướng víu “Tham sân si”. Phải chăng đối với ông “Đời chỉ là cõi tạm”, chỉ là “Quán trọ trần gian”, chỉ là “Chỗ nghỉ chân” vì cuộc đời thay đổi không lường trước được, nó đi theo vòng xoáy của tạo hóa và định mệnh đưa ta đến những mảnh đời éo le, tang thương, nghiệt ngã.

“…Đời không biết ta đến, chẳng biết ta đi.
Một thế giới vô ngã, là cõi tạm, nên quên mình...”

Hay:

"... Trăm năm chừng ghé lại, cõi tạm đầy thương đau
Căn nhà xưa quạnh quẽ, trong mắt sầu thiên thu..."

Hoặc:

…“Nghìn năm sau sa mạc chiều
Tiếng chim quốc gọi quạnh hiu Ta Bà…”

Những dòng thơ của Thái Tú Hạp đã thấm nhuần, thẩm thấu tư tưởng Phật Giáo từ khi ông còn là một thanh niên, sống gần ngôi Chùa cổ Hội An. Cái không khí tĩnh mịch, yên lặng, trong những đêm trăng sáng, tiếng chuông vang trong chiều, hương ngọc lan thoang thoảng ngoài sân chùa, mùi trầm hương từ chánh điện khiến tâm hồn ông cảm thấy an bình, thanh thản. Chính nơi chốn thanh tịnh đó đã cho Thái Tú Hạp yêu những áng thơ của các thiền sư Khuông Việt, Vạn Hạnh, Mãn Giác, Ngộ Ấn, Hương Hải, Không Lộ, v.v...Và nghiên cứu thể loại thơ Đường Thi qua những thi hào lỗi lạc như Lý Bạch, Thôi Hiệu, Vương Duy, Lý Thương An, Đỗ Phủ, v.v...cũng như am hiểu triết lý của André Gide, Hemingway, Kafka, Jean Paul Sartre, Nietzsche, Heidegger, Vallée Poussin, đã diễn tả rằng: “Trong Phật Giáo, cũng giống như trong tất cả thế giới, từ sát na được hiểu như là một khoảng thời gian rất ngắn, nếu chúng ta so sánh với thời gian của ngày, đêm, hoặc giờ. Chỉ có sát na hiện tại là có thực, cho nên chúng ta không nên lo lắng về quá khứ hay tương lai, hãy sống trọn vẹn với giây phút hiện tại với tâm chánh niệm”.




Theo Trần Ngọc Chất, hầu hết các bài thơ của Thái Tú Hạp phảng phất những nỗi buồn, cõi thơ của ông lấy giáo lý đạo Phật làm nền tảng, trong đó ẩn hiện cái lý Vô Thường, Vô Ngã và Chân Không. Vạn vật có sinh tất có diệt, có hình tướng ắt có hủy hoại, biến đổi liên tục qua bốn thời kỳ, Phật học gọi là Sinh, Trụ, Dị, Diệt. Bốn thời kỳ này qua mau gọi là Niệm niệm vô thường hay Sát na vô thường. Tất cả những cảnh vật và hiện tượng đều giả, chỉ có một cảnh tượng thật, đúng, vĩnh viễn, đó là Chân Không. Nó hoàn toàn khác biệt với ý niệm về hư vô trong triết học thái tây. Chân Không là thật không, là cái gì tuyệt đối, duy nhất, tưởng không mà thật vẫn có, bản thể của mọi sinh vật trong đó có con người. Bản thể ấy bất sanh, bất diệt, bất biến, trọn vẹn viên mãn. Đó là Chân Như, Thật Như, Như Lai, Bản Lai Diện Mục.

“Ta sẽ bỏ đi xa
Sống cuộc đời thiền giả
Núi rừng cùng trăng sao
Ngoài dặm ngàn tịch lặng
...sao ta giữ hoài vọng ngã
nghìn năm liễu ngộ Chân Như? (Dặm Ngàn Tịch Lặng)

Cũng như Thái Tú Hạp, trong thi ca thiền của Hermann Hesse có tính chất trong sáng thanh tao, siêu thoát, không ràng buộc do hệ lụy. Điều này nói lên lẽ vô thường và vòng sinh tử luân hồi. dẫn chứng qua 4 câu thơ sau:

“Như mỗi bông úa tàn, và mỗi thanh xuân nhường lối tuổi già, cũng vậy thăng hoa mỗi bậc thang đời Mỗi điều thông thái mãn khai, và mỗi đức hạnh vào thời của mình, và không được phép trường tồn vĩnh cửu…” (Những bậc thang)

Nhà văn Vương Trùng Dương khi bàn về thơ Thái Tú Hạp đã mượn lời trong kinh Bát Nhã là vô niệm vô tâm, là “Sắc tức thị không, không tức thị sắc” có nghĩa là sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, nói lên lẽ vô thường, vạn vật cứ thế biến đổi tuần hoàn trong vòng sinh tử luân hồi. Nói về sát na, ý niệm trong Phật Giáo là một đơn vị đo thời gian. Vallée Poussin, khi nghiên cứu và đã diễn tả rằng: “Trong Phật Giáo, cũng giống như trong tất cả thế giới, từ sát na được hiểu như là một khoảng thời gian rất ngắn, nếu chúng ta so sánh với thời gian của ngày, đêm, hoặc giờ. Chỉ có sát na hiện tại là có thực, cho nên chúng ta không nên lo lắng về quá khứ hay tương lai, hãy sống trọn vẹn với giây phút hiện tại với tâm chánh niệm”.

…“Trong sát na hạnh ngộ
Niết bàn cõi tánh không
…Trong từng sát na tâm
Buồn vui không nói hết
Thôi cũng đành vô ngôn”. (Sát Na Hạnh Ngộ)

Hay:

“Trong mỗi sát na
Hiện thực trong đời sống
An bình quán tưởng
Tĩnh tâm nguyện cầu” (Chuyển Hóa Tâm Từ Ái)

“Còn gì trong sát na
Đời buồn mai thức dậy” (Say Chút Rượu Trầm Luân)

Sát na là khoảng thời gian rất ngắn nhưng cũng có thể dài vô tận qua “Hạnh Phúc Đời Ban Cho”.

“Trăm mùa xuân hốt hoảng
Sát na tưởng chừng dài hơn thế kỷ lo âu…

…Cuộc đời tàn theo ta
Sát na rồi vỡ nát…”

Thơ của Thái Tú Hạp là thơ tình được thăng hoa bởi cái nhìn rất trong sáng, bình yên, trọn vẹn, tràn đầy, hiền lành, có nhuốm chút Thiền bởi cái trăn trở với khổ đau của cuộc sống phù sinh, của tìm kiếm con đường giải thoát, vì khi đọc thơ của ông cho ta thấy phảng phất những từ ngữ & tư tưởng Phật giáo, tràn ngập những thuật ngữ Phật giáo bộc phát một cách tự nhiên, không gượng ép và rất sinh động: Bồ-tát, hoa nghiêm, thiền, vô thường, hóa thân, trầm luân, hằng sa, trang kinh, đại hồng chung, sắc-không, chân không, nghiệp, vọng niệm, sát na v.v....

“Em cười như nụ hoa Trong mai tâm Bồ-tát Tiếng chuông đời thoảng qua Phù vân chim hót lá… … Sớm mai nào chợt ngộ Tâm ta tưởng là hoa Trong sắc màu giả tưởng Có không nào trong ta.” (Chợt ngộ)

Theo tác giả Trần C. Trí, Thái Tú Hạp làm thơ tình có vẻ sâu thẳm trong "thiền" hoặc ngược lại, thơ "thiền" nhưng lại diễn tả rất là tình. Những thơ “Tình-thiền” của Thái Tú Hạp thể hiện rõ ràng qua những vần thơ sau đây trong bài “Vô thường yêu em”.

“Mắt xưa trăng đẫm non ngàn
Lời xanh biếc ngọc vô thường yêu em
Lá theo tiếp lục đường chim
Hồn mai phục giữa hoa-nghiêm lặng tờ.”




Hạt Bụi Nào Bay Qua

Thái Tú Hạp tâm sự với bạn bè rằng: “Khi ông càng trải qua những biển dâu tang điền, tuổi càng ngất ngưỡng ở cửa tri thiên mệnh, ông càng chiêm nghiệm lẽ vô thường, mọi hiện hữu đều sinh diệt như những ảo ảnh không thật, như huyễn hóa, như bọt sóng, như sương trên cành. Và chỉ có con đường trở vào cõi tâm mới là nơi chốn an bình. Đích thực là thế giới thanh tịnh của Chân Như…” Đời phải chăng là tạm bợ, là vô thường, là hư ảo như giấc mơ rồi tắt lịm hay giấc thiên thu đời tĩnh lặng, thời gian biền biệt vết chân xa mà thi sĩ Thái Tú Hạp đã đề cập trong lời thơ của ông.

“Mây huyễn hoặc cõi phương đông
Hạt kinh khuya rớt xuống dòng tịch liên” (Màu Hoa Tự Tại)

Hay:

“Nhất quán rồi – mộng mai sau
Tâm vô lượng mở - có nhau luân hồi” (Luân Hồi Có Nhau)

Hoặc:

“Ta về cổ tự nghe kinh
Suối mây chim hót trên cành tĩnh tâm
… Bụi nào xóa sắc sắc không
Nghe chuông đại nguyện hóa thân chim trời” (Thắm Tờ Kim Cang)



CÕI “VÔ THƯỜNG” TRONG THƠ THÁI TÚ HẠP

Phật tính vốn dĩ đã có trong tâm hồn, nên cho dù ở cõi thơ nào, những nhà thơ Việt Nam đều chuyên chở những ý niệm Phật giáo, lấy tình thương xóa bỏ hận thù. Trong kinh Pháp Cú đã dạy:

“Trong các pháp, tâm dẫn đầu, tâm là chủ, tâm tạo tác tất cả. Nếu đem tâm thanh tịnh tạo nghiệp kéo đến như bóng theo hình”. Thái Tú Hạp đã hấp thụ sâu đậm giáo lý đạo Phật, nhưng trong cuộc sống, ông như còn lẩn quẩn hay đã nghiêng ngã ở giữa cõi “Sắc-sắc Không-không”, như đắm chìn vào cõi vô thường đầy khổ lụy. Ông tỏ ra am hiểu cái vòng vo lẩn quẩn của cõi “vô thường yêu dấu” và chấp nhận hội nhập vào cõi vô thường để chuyên chở tình dấu yêu mà chúng ta thấy trong bài thơ “Nghĩ Ngợi Trước Hoa”:

“…Xin mắt em là hoa
Trong vô thường yêu dấu…
…như giọt buồn trên hoa…”

Hay:

“…Hạnh phúc nào chẳng xót xa
Tự do nào không khơi máu thắm…” (Hạt Bụi Nào Bay Qua)

Lưu vong ở hải ngoại, Thái Tú Hạp sau những gian truân, khổ ải, mất mát trong đoạn đời tù đày, vượt biên, v.v...Thơ của ông trở nên thâm trầm, u uẩn, đã thiền hóa tâm thức của ông trở về với cõi Niết Bàn. Phong cách thi ca Thiền vị, Thái Tú Hạp diễn tả tâm thức của mình qua hình thức ngôn ngữ hiền hòa, nội dung trong sáng và đem đến cho tác phẩm có chiều hướng thi vị Thiền thơ một cách nghệ thuật. Thơ của Thái Tú Hạp đầy ắp chuyện nhân sinh, tầm đạo, giác ngộ và an nhiên tự tại, đạt đến chân lý bản thể huyền diệu của đạo. Cõi thơ Thái Tú Hạp là tâm thức của lớp người lưu đày sau chiến tranh, một cuộc chiến khốc liệt, huynh đệ tương tàn, gia cang ly tán. Gia đình vẫn là nền tảng cần phải bảo vệ, là ý hướng ấp ủ trong cuộc sống. Chỉ có Tình Yêu đích thực và sự thủy chung mới giúp lướt qua các nghịch cảnh, hận thù và cám dỗ. Nhưng chiến tranh, ở khía cạnh nào trong thơ Thái Tú Hạp, cũng vẫn là những bày tỏ nhẹ nhàng, ngay cả khi ông có đề cập tới súng đạn, hận thù, chết chóc, chia lìa…Tiếng thơ Thái Tú Hạp Khoan hòa mà thiết tha, trầm lặng nhưng da diết, mộng mơ nhưng tha thiết, đơn sơ nhưng hàm xúc.

Chẳng những chúng ta thấy tư tưởng Phật giáo trong thơ tình, quê hương, thơ tù mà chúng ta còn thấy ngay trong những bài thơ viết cho Me, Thái Tú Hạp luôn hướng về quê nhà nơi có mẹ già chờ mong tin con. Điều này cho ta thấy thơ Thái Tú Hạp luôn vang vọng lời êm ái, lòng dấu yêu tình mẫu tử trong bài “Nhớ Mẹ” sau đây:

“Mười năm rời xa Mẹ
Lòng con đầy tiếng Kinh...
Êm hoài mơ thấy mẹ
thắp nến soi hồn đau
Đời con chiều quạnh quẽ
Đất lạ hắt hiu sầu.”

Quê Hương mà Thái Tú Hạp luôn hoài vọng trong tác phẩm “Bầy Hạc Rong Chơi” và “Tôi Sẽ Về Thăm Quảng Nam” của ông là quê hương Hội An cổ kính“Mái ngói âm dương hò hẹn”, đầy ắp kỷ niệm “Cất dấu trong hồn những kỷ niệm ấu thơ”, ấp ủ “Trái tim thời mộng mị”và “Thủa tình yêu mới chớm”

“…Núi Non Nước, động Huyền không khói quyện
Miền quê hương có Ngũ Phụng Tề Phi…”

Hay:

“…Trong thế gian này nỗi sầu nào đau đớn nhất
Cũng không bằng sầu mất quê hương…”

Cõi thơ ở Thái Tú Hạp đã cuốn hút theo những biến chuyển đau thương dồn dập, cảm thấy bùi ngùi, cảm thấy chua xót cho những đổi thay nơi mình. Thái Tú Hạp đã cảm nhận một cách sâu sắc những vết quất của thời đại, những bi thảm của một cuộc chiến khốc liệt và những băn khoăn khắc khoải của kiếp sống tha hương. Cõi thơ Thái Tú Hạp phản ảnh nỗi đau thương và niềm ưu tư. Lời thơ trầm buồn thống thiết, mối hận vong quốc canh cánh bên lòng. Thái Tú Hạp kìm hãm, nén chặt cảm xúc, kín đáo trau chuốt và cô đọng lời thơ một cách nhẹ nhàng mà tha thiết được ông viết theo thể thơ ngũ ngôn, giúp ông gói ghém ý, tình ý một cách tinh tế khiến người đọc ngậm ngùi xót xa. Bao năm chinh chiến đã có lần đưa ông về gần kề cái chết, những chiến bại và bất khuất trong chốn lao tù cùng các chiến hữu, đồng đội đã in sâu trong tâm khảm ông qua bài thơ “Người Tù Binh Dũng Liệt:

“…Trái tim vẫn nguyên trinh
Giữa gông cùm đốn nhục
Hòn ngọc vẫn tinh anh
Giữa đọa đày địa ngục…”

Trong những năm tháng lưu lạc ở quê người, mấy ai chẳng bùi ngùi, chua xót nhìn lại những bi thảm của một cuộc chiến khốc liệt đã qua và những băn khoăn khắc khoải của kiếp sống tha hương. Tâm thức của Thái Tú Hạp vốn mang nặng bản chất đôn hậu, nhân ái và tinh thần “hoài cổ” nên dù những cảnh tù đày, những ngày khắc khoải, tủi nhục, bi thương, đói lạnh, cô đơn trong trại tù cải tạo. Phải những ngày mất cả nhân bản con người của một người lính thua cuộc nhưng thơ của Thái Tú Hạp vẫn mang nhiều tính thiền của một người thấu lẽ vô thường của kiếp người và vạn vật. Cõi thơ Thái Tú Hạp phản ánh nỗi đau thương và niềm ưu tư qua cảnh tù đày, những nghịch cảnh, oái oăm, dị thường, phi lý mà con người không có sự lựa chọn “Trên ngàn dặm lưu đày nghiệt ngã” nhưng trong tâm thức người tù binh Thái Tú Hạp cũng đón nhận những giây phút hạnh phúc khi nghe tiếng chim hót trong ghềnh núi lúc đang đốn cây trong rừng, chạnh lòng nhớ đến người yêu dấu.

"Người xa vẫn chưa về
Trùng dương mờ mịt khói
Chắc không còn ai nghe
Tiếng chim trong ghềnh núi!”

Hay:

"Từ đó ta có em trong tận cùng đất khổ
Nhất nguyên này đẹp vô lượng tình yêu
Em thắm xinh như nụ hoa vàng
Như tiếng chim hót trong rừng cây..." (Tiếng Chim Trong Ghềnh Núi)

Ảnh hưởng bởi triết lý của Lão giáo, khung cảnh thiên nhiên, không gian bao la, mênh mông, thanh tịnh luôn có mặt trong cõi thơ Thái Tú Hạp đã giúp ông tìm được tâm thức Chân Như, Tâm hư vô. Mặc dù không gian thiên nhiên lưu đày đó luôn có sự hiện hữu của vô ngã, vô thường, Thái Tú Hạp đã dứt bỏ thù hận, không câu chấp, không vướng mắc quá khứ, ông buông mình, sống nương theo biến dịch, thanh thản và tìm đến Thiền. Thái Tú Hạp đưa Thiền của triết lý Phật giáo và Lão giáo vào cuộc sống mới của mình: Tu dưỡng nhân cách, an nhiên tự tại, sống vui, tự tin vào bản thân, vô cầu vô ngại:

"Gió cát ngàn dặm xa
Ta làm thân mục tử
Ngủ say trên đồi hoa
Bỏ quên đời hư ảo."(Cỏ Thi).

Thái Tú Hạp cảm nhận được rằng trần thế chỉ là nơi tạm bợ và vô thường (無常; sa. anitya; pi. anicca), là "không chắc chắn", là "thay đổi", là "không trường tồn”. Giáo lý vô thường trong Phật giáo mang đến một sự xác nhận như một sự phát hiện chân chính, đó là tất cả những hiện tượng, dù thuộc tâm lý hay thuộc ngoại cảnh tự nhiên, không có ngoại hạng, đều là vô thường. Phải chăng Thái Tú Hạp nhận ra sự chuyển tiếp từ trạng thái không hiểu biết đến trạng thái ý thức và tính chất vô thường của vạn vật, cùng với sự thừa nhận tính chất lập nên con đường tu học, con đường được Phật vạch ra trong giáo lý của mình.

"Ta cạn chén càn khôn
Giữa khuya đời tịch mịch
Mộng cũng tàn hư không
Trang kinh nhòa thiên cổ
Sương tóc bạc rừng phong
Chung trà nhớ viễn khách…” (Một Thoáng Phù Vân).

Qua thời gian nghệ thuật, thơ của Thái Tú Hạp, bình đạm, trầm lắng, trừu tượng, thi hóa, linh hóa và thiền hóa, ngôn ngữ thiền thi trong thơ của ông không dài dòng, lời hữu hạn, vô cùng, ví như cõi thật của Bát Nhã. Lời thơ thường ẩn dụ, Ngôn ngữ thơ Thái Tú Hạp sử dụng ngôn từ Thiền như: Ngộ, liễu, giác, tâm, hữu vô, không, sắc không, tính, duyên, vọng thực, vọng tưởng, vọng niệm, chân huyễn, nghiệp, bồ đề, tịnh khúc, cổ phong, vô lượng, vô thường, vô tự, u cư, đại hồng chung, trầm luân, hằng sa, đồi Hoa Nghiêm, hạt bụi...“hạt bụi nào bay qua”, “hạt bụi trần ai khổ lụy”, “sá chi đời hạt bụi”, “cát bụi nào vong thân”,v.v…Ngoài ra trong thơ của Thái Tú Hạp cũng nhắc đến loài vật như chim hạc, con dế: “Bầy hạc rong chơi phù ảo ngàn xa”, “Con dế sầu lưu lạc”, “Loài dế đã bỏ quên, lời ca buồn tháng chạp”,” Đêm còn lại tiếng dế mèn”, v.v…Đó chính là nhạc tính trong thơ Thiền Thái Tú Hạp ý niệm thời gian là vĩnh cửu của cái Tâm nhắm đạo, của cái vô tượng, vô ngôn:

" Đời thắp lại những mầm xanh bát nhã
Tình thương nối nhịp lời kinh…" (Trở Lại Suối Nguồn)

"Tâm có động mười phương thao thức
Cõi bình minh rạng rỡ hồn phương đông…" (Mưa Trong Vùng Trí Tưởng).

"Cổng chùa khuya chưa khép, bầy sao rủ nha Thiền sinh quanh quẩn nghĩ, giọt nến nhòe chữ tâm
<

Ba sao và nguyệt hạ, sắc không chỉ một lần ...”

Trong thi ca, những nhà thơ Việt Nam như, Nguyễn Nhược Pháp, Tự Đức, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Tế Hanh, Thanh Tịnh, Lưu Trọng Lư, v.v… cũng không nhiều thì ít chiu ảnh hưởng bởi nét tinh hoa của Phật Giáo, rõ nhất trong thi phẩm Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp :

“… Thuyền đi, bến Đục qua Mỗi lúc gặp người ra Thẹn thùng em không nói : “Nam mô A Di Đà”. … Mẹ bảo “Đường còn lâu Cứ vừa đi vừa cầu Quan Thế Âm Bồ Tát Là tha hồ đi mau!”

Những ảnh hưởng sâu đậm tư tưởng Phật Giáo trong thi ca chúng ta còn tìm thấy trong những tác phẩm của Quách Tấn, Tuệ Sỹ, Phạm Công Thiện, Tuệ Mai, Bùi Giáng, Nhất Hạnh, Cao Hạnh Nhân, Nhã Ca… Trong mỗi Sát na của đời sống con người cuốn hút vào cơn lốc đảo điên của vọng tưởng, vào sự ích kỷ đầy trầm thống khổ đau, của u minh mê muội, đã phá bản chất từ thiện uyên nguyên.

“…Có những cây mai sống trọn đời Bên hàng tùng bách mãi xanh tươi Nhìn lên phảng phất hương trầm tỏa Đức Phật từ bi miệng mỉm cười

Tôi nhớ làm sao những buổi chiều Lời kinh giải thoát vọng cao siêu Đây ngôi chùa cổ ngày hai buổi Cầu nguyện dân làng sống mến yêu.” (Huyền Không)

Đại thi hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều cũng nói về chữ “Tâm” khi khẳng định về thân phận của kiếp người qua hình ảnh của nàng Kiều trong tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh, mở đầu bằng bốn câu thơ.

“Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau Trải qua một cuộc bể dâu Những điều trông thấy mà đau đớn lòng…”

Đại thi hào Nguyễn Du đã viện dẫn lý nghiệp báo luân hồi của Phật Giáo Sư Tam Hợp:

“… Sư rằng: Phục họa đạo trời Cội nguồn cũng bởi lòng người mà ra Có trời mà cũng tại ta Tu là cõi phúc, tình là dây oan…”

“… Đã mang lấy nghiệp vào thân Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa Thiện căn vốn tại lòng ta Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài…”

Thơ văn Nguyễn Công Trứ chịu ảnh hưởng khá sâu đậm Phật Giáo:

“… Thoạt sinh ra thì đà khóc chóe Trần có vui sao chẳng cười khì ? Khi hỉ lạc, khi ái ố, lúc sầu bi Chứa chi lắm một bầu nhân dục…”

Ngày nay đã có nhiều nhà thơ bước vào ngưỡng cửa Thiền thi với những áng thơ chất chứa âm điệu thiền tâm tỉnh giấc ngộ đời để nhìn về một cõi trầm luân như trong "Lãng bước vào Thiền" của nhà thơ Nguyễn Hải Bình.

"Đặt chân trước ngưỡng cửa Thiền
Thân tâm vọng động bên thềm vô minh
Nguyện đường đón nhận Thiền sinh
Quy y Phật pháp dọn mình chân tâm
Một đời như thoáng phù vân
Lời răn ngũ giới bao lần đã quên..." (Cửa Thiền)

"Từng bước chân đi, nẻo vào tịnh độ
Nhịp hành Thiền tâm niệm tiếng Nam Mô
Dời nẻo đường trần tìm cõi hư vô...
...Dìu tâm thức quên đi vòng hệ lụy
...Nợ tăng bồng tất cả một phù du..." (Một cõi đi về)

Và Thiền thi qua những thi phẩm sáng tác bởi các thành viên trong Nhóm Nhân Văn Nghệ Thuật (NVNT):

Tình duyên ta lại chốn này,
Bèo mây tương ngộ đan tay vào đời.
Bướm hoa lượn gió thảnh thơi
Duyền thề bến đợi trao lời chân tâm (Duyên cũ nơi xưa, Khánh Lan)

Đêm nay trăng rằm treo đầu ngõ
Lặng soi âm thầm bước em về.
Chông chênh cảnh đời này tạm bợ
Sầu dâng hồn mãi thấm buồn tênh. (Trăng đêm suy tư, Thụy Lan)

Cuộc đời sắc sắc không không
Nợ duyên duyên nợ nỗi lòng phân vân
Nợ duyên có số có phần
Sắc không không sắc bâng khâng ý trời? (Sắc không không sắc, Việt Hải)

Niềm riêng có những niềm riêng
Cỏ cây tỉnh giấc cõi thiền thinh không.
Mây trời trôi nổi ruổi rong
Vô thường bất định bềnh bồng phù vân. (Cõi thiền thinh không, Việt Hải)

Tóm lại, “Thiền thi” của thi sĩ Thái Tú Hạp phảng phất chất thiền một cách nhẹ nhàng, không gượng ép, không theo phong trào hay hình thức mà nói lên tâm tình chân thật của thi sĩ. Thế giới trong thơ của Thái Tú Hạp ví như giòng suối mát rửa sạch bụi trần gian, như bóng mát để ta dừng chân tạm nghỉ của một hành trình đi tìm chốn an lành vĩnh cửu, cõi vĩnh hằng trong Thiền và trên cõi thâm sâu trong của Phật đài. Thế giới “Thiền thi” trong Thái Tú Hạp là thời gian luân hồi theo vòng xoáy của thịnh suy bĩ thái. Trái ngược với thế giới của đại văn hào Marcel Proust trong tác phẩm “Đi tìm thời gian đã mất” (À la recherche du temps perdu), đó là thời gian không bao giờ trở lại. "Thật không may, thật không may, dễ mất người yêu hơn là hoàn thành Tìm kiếm thời gian đã mất." (It is, unfortunately, easier to lose a lover than complete In Search of Lost Time).

Nếu nói về Thiền, chúng ta không thể không nói đến 3 ý tưởng cao đẹp về Thiền tịnh, những ý tưởng này sẽ làm sáng tỏ phần kết luận của tôi về nét Thiền trong thi ca, vì khi ta Thiền là ta trở về với thiên nhiên, Thiền sẽ đem đến cho ta hạnh phúc trong cuộc sống. Điều này được minh chứng qua câu châm ngôn của Lão Tử sau đây:

“Khi ta ngộ ra rằng mình không thiếu thứ gì thì cả thế giới này đã thuộc về mình rồi.”

(When you realize there is nothing lacking, the whole world belongs to you.)

Cũng trong tư tưởng ấy, nhà văn người Anh, James Allen cho rằng:

“Sự tĩnh lặng của tâm trí là một trong những viên ngọc quý của trí tuệ.”

(Calmness of mind is one of the beautiful jewels of wisdom.)

Và sau cùng là theo cảm tưởng của vận động viên môn côn cầu Canada, Maxime Lagacé:

“Cách thiền tốt nhất là không cần nhiều nỗ lực.
Mà thiền tốt nhất là một nhận thức thật thư thái..”

(The best meditation is effortless. The best meditation is a gentle awareness.)

Để kết thúc bài biên khảo và nhận định của tôi về “Nét Thiền Thi Trong Thái Tú Hạp”, xin theo dõi bài thơ cuối cùng của bài viết:

Bước qua bao cảnh chuỗi đời
Như hoa nhuỵ nở rạng cười tinh khôi.
Cuộc đời tôi vẫn là tôi
Như mây phiêu lãng ngàn trôi miệt mài. (Mông lung, Khánh Lan)



Tài liệu tham khảo:

1. Tuyển tập Hạt Bụi Nào Bay.
2. Tuyển tập thơ Suối Nguồn Tâm Thức.
3. Tài liệu sử dụng nguồn từ Wikipedia.
4. TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO TRONG THI CA VIỆT NAM.




Khánh Lan

































































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com