Muốn liên lạc với tác giả
xin bấm vào hình trên










































































































NGUYÊN SA
một chân trời mới
trong thi ca Việt Nam

Khánh Lan





Tôi có ba chị em gái, chị Thư lớn hơn tôi năm tuổi, tôi và Vy là út (tôi và Vy là chị em song sanh). Năm chị Thư 19, chị được học bổng đi Mỹ học, nên ở nhà chỉ có Vy và tôi. Tôi từ thuở nhỏ rất lười biếng và hay trốn việc, nên tôi còn có một "nickname" là "Bé Lười ". Cái tên này cũng chẳng làm tôi buồn, vì tôi cũng hơi lười thật. Tôi vốn không ưa chị Thư cho lắm, nên chẳng màn viết thư thăm chị. Một hôm, chẳng hiểu ai là thủ phạm, dám đánh cắp một tấm hình của tôi và gởi cho chị. Trong một lá thư chị viết riêng cho tôi, chị bảo: Tấm hình em chụp đứng dựa lưng vào gốc cây thông ở Đà Lạt, trông "ROMENTIC" lắm.

Ở cái tuổi 14-15, cái tuổi mà Giáo Sư Quyên Di gọi là "TUỔI HOA TÍM", tôi nào có hiểu "ROMANTIC" là gì? Mà cứ như theo anh Dũng của tôi, thì nó có nghĩa nôm na là "Lãng mạn, bay bướm"….. Tôi đang ở trong cái “Tuổi Hoa Tím”, nên thích mơ mộng viển vông, thích nhận được những lá thư tán tỉnh vu vơ, hay những cánh hoa khô ép trong tập vở, của những đứa con trai cùng lớp và khờ khạo như tôi. Nên tôi "mê" chữ "ROMANTIC" ấy lắm, vì nghe nó có vẻ "PRO…PRO…" làm sao ấy...Và từ đó tôi phải dùng chữ ấy ngay để lấy le với lũ bạn cùng lớp....

Bỗng một hôm, tôi nhận được một lá thư màu xanh nhạt, để trong một bịch giấy nhỏ xinh xắn, cũng màu xanh. Tôi vốn có tính tò mò từ thuở nhỏ, nên nhìn trước, nhìn sau, rồi mở ngay gói ấy ra xem..… Phía trong gói, một gói ô mai nhỏ nhỏ và một phong bì cũng màu xanh, đề tên tôi ngoài phong bì với nét chữ thật bay bướm. Bên trong phong bì là một lá thư màu xanh, kèm theo vài cánh hoa khô màu tím lạt được đặt cẩn thận trong lòng giấy. Lá thư không ký tên mà cũng không đề tên người gởi.....nên tôi chẳng biết là của ai….và ai là người gởi? Mà vỏn vẹn có mấy câu thơ: "Nếu ai có hỏi thầm ai thế.?
Tôi nói lâu rồi.....nhưng ngập ngừng khe khẽ
Để giận hờn chim bướm chả dùm tôi
Nhưng rồi lòng ăn ủi nắng chưa phai
Tình chưa cũ bởi vì tình chưa mới...

Chả có gì...sao lòng mình cũng thẹn
Đến ngượng ngùng bỡ ngỡ: hay là ai ?....
Trăm bức thư lót giấy kẻ dòng đôi
Mà nét chữ còn run (dù rất nhẹ)
Tôi đã viết hay chỉ thầm âu yếm kể
Tôi đã nhìn hay lặng lẽ say sưa ?
Nêm đêm vui sao cũng chớm buồn thưa
Và lo sợ khi lòng mừng quá đỗi...
Rồi trách móc: trời không gần cho tay với
Và cả nàng hư quá, sao mà kiêu...
Nên đến trăm lần: "nhất định mình chưa yêu"
Hôm nay nữa ….nhưng lòng mình sao lạ quá....

Tôi gấp vội lá thơ bỏ vào hộc tủ, một cảm giác nóng ran trên mặt, tôi đảo mắt nhìn quanh, lớp học vẫn trống trơn, không thấy một bóng người, lũ bạn cùng lớp còn ham chơi ngoài sân. Tôi ngồi phịch xuống ghế, thẫn thờ...rồi nói lẩm bẩm một mình...."ROMANTIC" thật..... Và bắt đầu từ ngày ấy, tôi tôi hay mộng mơ và bặp bẹ …..tập làm thơ, yêu thơ và siêu tầm thơ....những bài thơ tình lãng mạn mà tôi tự đặt tên cho nó là: "ROMANTIC POEMS".....tôi say mê nghe đi nghe lại cô bé “Tuổi Hoa Xanh”: Thái Hiền hát bài "Tuổi 13 và nghêu ngao hát theo.







Nhà văn Bích Huyền đã viết “Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc, áo nàng xanh tôi mến là sân trường” Có lẽ là hai câu thơ này đã làm thành tên tuổi của thi sĩ Nguyên Sa, ông đã diễn tả những cảm xúc ngây ngô của chàng thanh niên trong lứa tuổi 16 nói với một cô học trò tuổi chỉ có 13, hoàn toàn trinh nguyên trong trắng, thánh thiện, mong manh dễ vỡ. Có lễ bài thơ trên, thi sĩ Nguyên Sa đã viết cho cô bé Trịnh Thúy Nga yêu dấu của ông?

Trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng?
Mưa tôi chả về bong bóng vỡ đầy tay
Trời nắng ngạt ngào… tôi ở lại đây
Như một buổi hiên nhà nàng dịu sáng

Trời hôm ấy mười lăm hay mười tám?
Tuổi của nàng tôi nhớ chỉ mười ba
Tôi phải van lơn, ngoan nhé đừng ngờ
Tôi phải dỗ như là tôi đã lớn

“Nga” là tựa đề của một bài thơ mà thi sĩ Nguyên Sa đã sáng tác để tặng cho người vợ tên Nga. Thi sĩ Nguyên Sa đã ghi trong hồi ký: “Đây là bài thơ và cuộc đời mà ông cực kỳ yêu mến”.

“Và em sẽ cười phải không em
Em sẽ không buồn như một con chó ốm
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
Để anh giận sao chả là nước biển…” (Nga)






Thi sĩ Nguyên Sa & Nga



Những câu nói trong thơ của thi sĩ Nguyên Sa chứa đầy những hình ảnh tinh nghịch, dí dỏm, dễ thương, đã được giới trẻ giang tay đón nhận. Có lẽ trong thi sĩ Nguyên Sa chỉ có hình bóng "Thúy Nga", nàng đã chiếm trọn trái tim ông, điều này được thể hiện rõ rệt trong hầu hết những bài thơ tình của Nguyên Sa, đều nhắc đến tên "Nga”. Ông đã dùng những ngôn từ rất lạ qua hình bóng của những con vật thật dễ thương và đáng yêu như "con chó, con mèo". Những ngôn từ ấy như có một mãnh lực thu hút những giới trẻ đang trong lứa tuổi thanh xuân. "....trông Nga buồn như con chó ốm.....con mèo ngái ngủ trên tay anh....". Thật là một câu nói tình tứ, dịu dàng tràn ngập yêu thương, âu yếm của người tình đã làm mềm lòng không những các cô bé ở lửa tuổi "Hoa Tím" mà ngay cả các nàng ở tuổi "Hoa Hồng" cũng bị lôi cuốn theo.

“Em sẽ không buồn như một con chó ốm
Như con mèo ngái ngủ trên tay anh…”
“Em nhớ không, anh đã van em đừng buồn
Anh đã van em đừng để những nụ cười chắp nối
Mắt anh sẽ mờ vì những vết kim khâu
Và anh buồn, rồi lấy ai mà dỗ nhau
Lấy ai mà dỗ hai con chó ốm!...”

...... Tôi của ngày ấy cũng đang trong lứa tuổi "Hoa Hồng" như nàng Thúy Nga của thi sĩ Nguyên Sa, tôi đã lớn dần theo dòng thời gian. Những bài hát với âm hưởng nhạc tuổi thơ, hồn nhiên, trong trắng cũng dần dần đi vào quên lãng, để nhường lại cho những bài thơ tình lãng mạn....tôi bỗng dưng thích soi gương, làm dáng, thẹn thùng.....tôi chợt hiểu, mình đã bước vào ngưỡng cửa của lứa tuổi đôi mươi....có thể Giáo Sư Quyên Di sẽ gọi nó là "Tuổi Hoa Hồng"? Những bài thơ tình bay bướm mang đầy sắc thái yêu đương, tình tứ đã gieo một ảnh hưởng tâm lý mạnh mẽ trên giới trẻ thời bấy giờ. Những vần thơ đong đầy chất vị ngọt ngào, mới lạ của hương vị tình yêu được hưởng ứng nhanh chóng trong giới học sinh và sinh viên. Những bài thơ phổ nhạc Mùa Thu Paris, Áo Lụa Hà Đông của thi sĩ Nguyên Sa lan truyền và phổ biến rộng rãi không những trong khuôn viên học đường mà còn cả trong công sở và phòng trà.

“Em nhớ không, anh đã van em đừng buồn
Anh đã van em đừng để những nụ cười chắp nối
Mắt anh sẽ mờ vì những vết kim khâu
Và anh buồn, rồi lấy ai mà dỗ nhau
Lấy ai mà dỗ hai con chó ốm!...”

Không những thế, thi sĩ Nguyên Sa đã sáng tác những bài thơ theo thể loại tự do như kể chuyện, ông hình như thông cảm được nỗi lòng u uất, niềm tâm sự của những cặp tình nhân, yêu nhau tha thiết mà không thể sống bên nhau chỉ vì nghèo....

“Em đã khóc, anh đã khóc và chúng mình đã khóc
Bước chân lê trên những hè phố không quen
Chúng mình đã khóc vì không được gần nhau như hai con chim
Chúng mình đã khóc vì không có tiền làm lễ cưới, lễ xin
Và em nhớ không, chúng mình đã hỏi nhau:
Tại sao phải làm lễ tơ hồng
Tại sao phải nhờ người ta buộc chỉ vào chân
Khi tay em đã vòng ra đằng sau lưng anh
Khi tay anh đã vòng ra đằng sau lưng em
Người ta làm thế nào cắt được
Bốn bàn tay chim khuyên!...”

Tôi rất yêu thích siêu tầm thơ và đặt tên cho từng loại thơ. Tôi xếp thơ của thi sĩ Đinh Hùng vào loại xuất thần, ảo tưởng. Thơ của Nguyễn Bính là mộng mơ, bay bướm. Thơ của TTKH là tuyệt vọng, đau thương, v.v...và đặc biệt thơ của Nguyên Sa là "ROMANTIC". Để rồi, chính những vần thơ lãng mạn, đa tình ấy đã đưa tôi đến một chân trời mới lạ, nhẹ nhàng, tha thiết trộn lẫn thích thú và đam mê. Như bị thu hút bởi một mãnh lực nào đó, tôi mê man đọc những vần thơ êm ái mà thi sĩ Nguyên Sa viết riêng cho người vợ tên Nga.

“Không có anh lấy ai đưa em đi học về
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học
Ai lau mắt cho em ngồi khóc
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa
Những lúc em cười trong đêm khuya. (Cần thiết)

Thật vậy, thơ của thi sĩ Nguyên Sa như những bài học tủ cho những cậu học trò mới lớn, nhút nhát, khờ khạo, khi lần đầu tiên đối diện với tiếng xét ái tình....

“với thơ học trò anh chất lại thành non
với tay trắng anh vào thơ diễm tuyệt”.

Có những bài thơ của thi sĩ Nguyên Sa với những ý tưởng thật, táo bạo........ đầy nét tinh nghịch, tươi trẻ, mơ mộng, lãng mạn, mà chúng ta thấy trong bài thơ:

“Đêm mưa có chỗ bất ngờ
Chỗ thêm ấm áp chỗ thờ phượng nhau
Mai về mẹ hỏi đi đâu
Đắp chăn trùm kín ngang đầu nghe em”

Trong khoảng thập niên 1950 – 1960, trong lúc Sài Gòn, thi ca miền Nam đang còn mang mang tính chất của thể loại thơ thời tiền chiến với thi ca Đinh Hùng: “mắt xanh lả bóng chiều hoang dại”, Quang Dũng với “em đi áo mỏng buông hờn tủi”, Huy Cận với “em ơi hãy ngủ anh hầu quạt đây”, thì Nguyên Sa trở lại Sài Gòn năm 1956 từ Pháp, từ nổi tiếng với những bài thơ tự do, thơ tám chữ đăng trên tờ Gió Mới của hội giáo chức từ các năm 1958. Bài “Áo Lụa Hà Đông” là điển hình của loại thơ này.

Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn
Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng.”

Thơ Nguyên Sa giản dị, đơn giản, duyên dáng, ý nhị trong mà ông đem từ Pháp về Việt Nam năm 1956, đã làm thay đổi cảm nhận về thi ca và nhanh chóng lan tràn trong giới trẻ cũng như trong khuôn viên học đường tại Việt Nam. Thơ của ông có âm hưởng rộng lớn và làm thức tỉnh giác quan thẩm mỹ của thời đại, tạo sự thu hút cho những người nghe và đọc những vần thơ do ông sáng tác.

“Anh sẽ chép thơ trên thời gian
Lời thơ toàn những chuyện hờn ghen
Vì em hay một vừng trăng sáng
Đã đắm trong lòng cặp mắt em?” (Paris có gì lạ không em?)

Có người tự hỏi, có đặc điểm gì trong thơ của thi sĩ Nguyên Sa mà lại có thể thu hút nhanh chóng và chiếm được sự cổ vũ nồng nhiệt của sinh viên học sinh? Phái chăng ông đã đem được vẻ đẹp của nền văn minh Châu Âu, với phong cảnh hữu tình, không khí lãng mạn vào lòng giới trẻ. Hơn thế nữa, ông còn có khả năng khuấy động những khối óc tưởng tượng của giới trẻ với ánh đèn vàng Paris, nhà ga buồn, dòng sông Seine cuốn hút gợi tình, nhà thờ Notre Dame về lại Sài Gòn, nơi mà nhiều thế hệ thanh niên chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp. “Paris có gì lạ không em?” Theo tôi đây chỉ là một câu hỏi để có chuyện mà nói, vì Paris vẫn còn đó những quán café xinh xắn trên đại lộ Montmartre, quận 18. Paris, vẫn giòng sông Seine tình tứ, khu vườn Luxembourg mùa xuân tươi mát hay dưới trận mưa đầu mùa thu, Notre Dame Cathedral cổ kính, là những hơi thở của Prevert, của Apollinaire…. Phải chăng câu hỏi về Paris của Nguyên Sa về Paris đã làm cho những sính viên du học, đã một thời sống tại thủ đô hoa lệ PARIS, để thổn thức, luyến lưu nhớ về một thủ đô ánh sáng mà họ đã đi qua. Có phải PARIS thực sự là nơi đã là nơi xuất phát những cuộc tình lãng mạn, cuồng vọng, sôi động và đam mê?

“Paris có gì lạ không em?
Mai anh về em có còn ngoan
Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ
Em có tìm anh trong cánh chim
Paris có gì lạ không em?
Mai anh về giữa bến sông Seine
Anh về giữa một dòng sông trắng
Là áo sương mù hay áo em?”

Câu hỏi được đặt ra: Tại sao thơ của thi sĩ Nguyên Sa đã nhanh chóng đi sâu vào trái tim của sinh viên học sinh? Phải chăng ông đã khôn khéo chia sẻ phương cách diễn tả tình yêu của chính ông qua kinh nghiệm của một người anh đã có những thời gian tuyệt vời tại Pháp, thủ đô của tình yêu đôi lứa, của những dòng thơ tuyệt tác, cua hàng trăm thi tài trên thế giới. Thật vậy, những suy nghĩ của thi sĩ Nguyên Sa đã rất thực tế, ông sẵn sàng mách đường chỉ lối cho những chàng trai mới lớn, khép kín nỗi niềm tâm sự, vụng về, ngập ngừng khi đứng trước ngưỡng cửa tình yêu. Thơ của thi sĩ Nguyên Sa như một phương thức dùng thơ văn thay vì lời nói để bày tỏ tình cảm của mình.







Thi sĩ Nguyên Sa đã sáng tác rất nhiều bài thơ, nhưng chúng ta phải công nhận bài thơ "Aó Lụa Hà Đông" đã đưa ông lên đỉnh danh vọng của làng thơ văn Việt nam. Có những đoạn trong bài thơ Áo LụaHà Đông đã nói lên được sự ân cần, trìu mến, đong đầy yêu thương.

“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng……
Gặp một bữa anh đã mừng một bữa
Gặp hai hôm thành nhị hỷ của tâm hồn
Thơ học trò anh chất lại thành non
Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu…..

Nhà thơ Trịnh Gia Mỹ đã nhận định về thơ của thi sĩ Nguyên Sa như sau: “Có thể nói thơ tình Nguyên Sa có nhiều người đọc nhất, có nhiều người thuộc nhất và nhiều thế hệ đã đọc thơ ông và sẽ đọc thơ ông”.

Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn
Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông
Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng.”

Ngoài những bài thơ tình lả lướt, thi sĩ Nguyên Sa cũng sáng tác những bài thơ với nội dung buồn da diết như trong bài thơ: “Người Em Sống Trong Cô Độc”.

"Em đến chưa? Sao đêm chợt vắng
Cả cuộc đời xáo động cũng hao đi
Những ngón tay dần chuyển đến hôn mê
Và tà áo phủ chân trời trước mặt"

Chúng ta tự hỏi, vì sao thể thơ tự do của thi sĩ Nguyên Sa lại hoàn toàn khác biệt so với thể loại thơ tiền chiến của các thi sĩ khác? Có người cho rằng, thi sĩ Nguyên Sa cũng như những nhà thơ Nguyễn văn Trung, Trịnh Viết Thành, Nguyễn Khắc Hoạch, vốn là những nhà thơ đã từng sống ở Âu Châu, họ chịu ảnh hưởng của một nền văn hóa văn minh, trí thức, một cuộc sống buông thả, sôi nổi, vội vã, không tha thiết với đường hướng chính trị phi lý của xã hội, nên không nhiều thì ít, họ bị lôi cuốn theo cách suy nghĩ, lý luận bởi Jean-Paul Sartre, Albert Camus, Simone de Beauvoir,... là một suy đoán có tính chất triết lý và "gần" với những suy nghĩ của con người, xa lánh thẩm quyền và yên thân hưởng thụ. Paris lúc bấy giờ, là sự hiện hữu của sông Seine, vườn Luxembourg, sân trường đại học Sorbonne, khu Saint-Michel, những quán cà phê sinh viên và nghệ sĩ đầy khói thuốc ở Quartier Latin, là thơ Jacques Prévert, Guillaume Apollinaire, và hình ảnh của những người con gái mắt xanh, tóc vàng, da trắng, một biểu tượng cho nhan sắc tuyệt đẹp của những cô gái tây phương.

“Người em mắt xanh, tóc vàng sợi nhỏ ".

Theo nhận định của trang Sài Gòn Xưa: Khi một giáo sư triết học làm thơ, ông đã đóng góp vào nền văn học Việt Nam trên nhiều lãnh vực quan trọng: ông đã gián tiếp giới thiệu đến các sinh viên, học sinh của ông một kho tàng văn hóa, dùng thơ văn để diễn tả nỗi cảm xúc của mình, chuẩn bị sẵn sàng cho những cuộc tranh luận Tây phương, thu thập những ý thức văn hóa nghệ thuật, hầu có đủ khả năng để vượt ra khỏi những tục lệ phong kiến, cổ hủ, mê tín của nền văn hóa Hán học. Thi sĩ Nguyên Sa đã dùng phương pháp dậy học bằng cách đem thơ văn vào lớp học, dùng thơ để mở mang kiến thức, dùng thơ để chuyên chở những cảm xúc của mình, để diễn tả những nỗi buồn và những cuộc vui. Có thể nói, thi sĩ Nguyên Sa đã thành công trong lãnh vực giáo dục học đường. Tuy là giáo sư triết nhưng thơ của thi si Nguyên Sa thế hiện tiếng nói của của con tim. Thơ Nguyên Sa cho thấy ông có một tâm hồn nhạy cảm của tình yêu, chứng tỏ ông có một có ngôn từ và cung cách riêng biệt khi sáng tác thơ.

Thời gian sau 1975, thơ của thi sĩ Nguyên Sa chuyển hướng theo vận nước nổi trôi, nên thơ của ông trở nên buồn bã, chán nản hơn mà chúng ta thấy thể hiện rõ ràng trong bài thơ Lúc Chết.

"Anh cúi mặt hôn lên lòng đất
Sáng ngày mai giường ngủ lạnh côn trùng
Mười ngón tay sờ soạng giữa hư không
Đôi mắt đã trũng sâu buồn ảo ảnh
Ở trên ấy mây mùa thu có lạnh
Anh nhìn lên mái cỏ kín chân trời
Em có ngồi mà nghe gió thu phai
Và em có thắp hương bằng mắt sáng? (...)"

Tóm lại, nhắc đến Nguyên Sa, thơ ông vẫn được nhiều người nhắc đến mặc dù nhà thơ đã từ trần hơn 20 năm qua (ngày 18 tháng Tư năm 1998). Những bài thơ phổ nhạc của ông vẫn được trọng dụng, yêu thương, kính trọng và ưu ái. Thơ tự do của Nguyên Sa dễ gây cảm xúc dễ thụ nhận bởi người đọc, chứ không huyền bí thư thơ của Đinh Hùng, không hùng vĩ như thơ của Chế Lâm Viên, và không sầu não như thơ của TTKH hay Hàn Mặc Tử. Thơ của thi sĩ Nguyên Sa dùng thể thơ tự do với nhiều hình ảnh mới và cách dùng chữ bất ngờ, bén nhạy... chứng tỏ Nguyên Sa đã nắm vững quy luật của ngôn ngữ, của tiếng Việt và có khả năng thuyết phục người thưởng thức văn nghệ rằng thơ tự do có thể sống động, đơn sơ nhưng truyền cảm và vượt thoát khỏi những bó buộc và giới hạn của quy luật. Thơ của ông đã chiếu sáng trên nền trời thi ca Việt Nam hậu chiến.




Khánh Lan

































































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com