Muốn liên lạc qua email với tác giả
xin bấm vào hình trên










































































































Khánh Lan & Việt Hải





Trong bài này, trước tiên anh em chúng tôi muốn nói về yếu tố nghệ thuật, theo quan điểm của chúng tôi, nghệ thuật văn học là viết về ngôn ngữ hay thời kỳ hoặc văn hóa để thu hút sự chú ý của mọi người. Việc này không hẳn chỉ để thể hiện những kinh nghiệm về tác phẩm mà còn để cống hiến tinh thần dũng cảm, lòng nhiệt huyết và kiến thức của tác giả. Những hành động đối với kiến thức đó dẫn đến sự khôn ngoan để hoàn thành nhiệm vụ của tác giả đối với nhân loại, để giúp họ thông hiểu những ý tưởng hay các bài viết của tác giả về nghệ thuật văn học hòa bình như một giai điệu ngọt ngào êm tai người ngh.

Theo nghĩa căn bản, nghệ thuật văn học là bất kỳ tác phẩm nghệ thuật nào được tạo ra bằng cách sử dụng từ ngữ và ngôn ngữ, được thể hiện qua sách báo, bài thơ, bài văn xuôi, bài phát biểu hay bất cứ thứ gì khác. Nghệ thuật văn chương được phân loại như sau:

1. Nghệ thuật văn chương thuần túy được gọi là “Nghệ thuật vị nghệ thuật” khi nó thể hiện được giá trị nội tại của nghệ thuật đích thực, nếu không, đó là chỉ là thứ vô giá trị. Giá trị nội tại của nghệ thuật đích thực chỉ có thể có nếu nghệ thuật thoát khỏi mọi áp đặt về luân lý, răn dạy, hay dùng làm công cụ phục vụ bất cứ thứ gì khác ngoài chính nghệ thuật. Đó là ý nghĩa của “Nghệ thuật vị nghệ thuật”.

Nghệ thuật vị Nghệ thuật theo quan điểm phương tây:

Nhận xét về Nghệ thuật vị Nghệ thuật (L'art pour l'art) đầu tiên do sự tìm tòi khám phá bởi thi sĩ Théophile Gautier (1811-1872), ông là người tiên phong đã ứng dụng cụm từ ngữ này tạo thành khẩu hiệu trong phần đề tựa cho cuốn sách Mademoiselle de Maupin ấn bản năm 1835 của mình. Tuy nhiên xét lại thì không hẳn Gautier là người đầu tiên đã viết ra những từ ngữ đó, mà chúng xuất hiện trong các tác phẩm của các văn nhân như Edgar Allan Poe, Victor Cousin và Benjamin Constant. Vì trong bài tiểu luận "Nguyên lý thi ca" (1850), văn hào Allan Poe ghi nhận rằng: "Chúng tôi đã quan niệm trong tâm khảm rằng viết một bài thơ thì chỉ đơn giản là vì bài thơ đấy mà thôi... và thừa nhận ý muốn của chúng tôi là vậy rồi, thì tức là tự chúng tôi thú nhận niềm khao khát triệt để đến tính tôn nghiêm và sức mạnh của thơ ca chân chính:– mà thực tế đơn giản rằng vậy tức là chỉ cần chúng tôi cho phép bản thân nhìn vào tâm hồn của chính mình thì chúng tôi sẽ ngay lập tức ở đó, khám phá rằng bên dưới mặt trời chẳng có hoặc chẳng thể tồn tại bất kỳ tác phẩm nào mà được tôn nghiêm thấu đáo, cao quý tột bậc, hơn chính bài thơ này, tự thân bài thơ này, ‘bài thơ mà là một bài thơ và chẳng gì hơn’ này, ‘bài thơ mà được viết chỉ vì bài thơ đấy’ này".

Bên đông phương đưa ra lập luận qua phương ngôn “Văn dĩ tải đạo” ẩn ý cho trường hợp vị nghệ thuật được minh định khá rõ ý tưởng là “đạo nghệ thuật”. Nếu ta nhìn nhận chữ “đạo” như vậy thì nếu nghệ thuật lãng mạn hay văn học lãng mạn vẫn là bản chất con người văn nghệ sĩ do yếu tố nhân bản, bởi vì ý tưởng cơ bản "Văn là Người" (Le style c'est l'homme). Nghệ thuật gồm: Điêu khắc, nhiếp ảnh, hội họa, kịch nghệ, âm nhạc, thi ca, văn học... Nghệ thuật như vậy vốn của con người, cho con người và bởi con người. Do đó, những văn nghệ sĩ trên như Théophile Gautier, Edgar Allan Poe, Victor Cousin và Benjamin Constant đã có lý do chính đáng để biện minh cho quan điểm "Nghệ thuật vị Nghệ thuật.

Lý thuyết chuyên đề mỹ học là chuyên tâm cho thuần túy văn học như các tác giả của các tác phẩm: Đoạn Tuyệt của Nhất Linh, Nửa Chừng Xuân của Khái Hưng, Sám Hối của Minh Đức Hoài Trinh, Ngoại Tình của Nguyễn Quang, Thung Lũng Tình Yêu của Lệ Hằng, Vòng Tay Học Trò của Nguyễn Thị Hoàng. Love Story của Erich Segal, Notebook của Nicholas Sparks, P.S. I Love You của Cecelia Ahern, Karen Karenina của Leo Tolstoy. Bonjour Tristesse của Francoise Sagan, La Porte Étroite của Andre Gide, La Dame aux Camélias của Alexandre Dumas, Madame Bovary của Gustave Flaubert, L'Amour aux temps du choléra của Gabriel García Márquez, v.v...

Theo lập luận cổ xúy cho xu hướng này thì cách đây hơn 120 năm, danh hào Ái-nhĩ-lan Oscar Wilde (1854-1900) đã ghi nhận như sau: “Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả duy nhất của một khí chất duy nhất. Vẻ đẹp của nó xuất phát từ một thực tế rằng tác giả của nó chính là người viết. Nó không liên quan gì tới việc người khác mong muốn cái họ muốn. Thật vậy, một khi nghệ sĩ ghi nhận những gì người khác muốn, và cố gắng đáp ứng nhu cầu của người khác, anh ta đã không còn là một nghệ sĩ nữa, mà đã trở thành một gã đần độn hoặc một thợ thủ công làm trò giải trí, một gã lái buôn thật thà hoặc gian manh. Từ khoảnh khắc đó trở đi anh ta không còn có thể tự cho mình là nghệ sĩ được nữa."

Danh hào Ái-nhĩ-lan Oscar Wilde muốn nhấn mạnh rằng: Không một ai có thể có ảnh hưởng trên ngòi bút của tác giả, chính tác giả có toàn quyền khước từ việc dùng ngòi bút của mình để viết theo xu hướng chính trị, xã hội mà từ bỏ sự lãng mạn của văn chương tự do (l’art pour l'art hay Art for art's sake).

2. Trái ngược với xu hướng trên là “Nghệ thuật vị nhân sinh” thường được hiểu là nghệ thuật giữ vai trò hay mang nhiệm vụ phụng sự xã hội, kinh tế, quyền lực và tất cả nghệ thuật. Như vậy nghệ thuật chỉ là công cụ cho phạm vi kinh tế, xã hội hay chính trị. Do đó nghệ thuật vị nhân sinh (l’art pour la vie hay art for life) là lý thuyết khẳng định bản chất phạm vi xã hội của nghệ thuật, chủ trương nghệ thuật gắn bó với đời sống xã hội, chính trị, chống lại các khuynh hướng nghệ thuật và thoát ly khỏi ý tưởng lãng mạn trong cuộc sống.

Ý tưởng văn chương phục vụ nhu cầu xã hội điển hình qua những tiểu thuyết như: Giông Tố hay Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng, Sống Mòn của Nam Cao hay Mark Twain với những tiểu thuyết như The Adventures of Tom Sawyer, Life on the Mississippi, The Adventures of Huckleberry Finn. Nicholas Nickleby của Charles Dickens, Uncle Tom's Cabin của Harriet Beecher Stowe, v.v... là những ngòi bút nêu lên hay tranh đấu cho sự công bằng xã hội, cho sự bình đẳng về màu da.

Nhân khi anh em chúng tôi bàn thảo về quyển sách mới nhất của nhà văn Nguyễn Quang, " Ôn Cố Tri Tân”, chúng tôi nhận thấy một số tác phẩm trước đây của tác giả Nguyễn Quang, ông đã cho ra hàng loạt tiểu thuyết trung thành với hệ phái Nghệ thuật vị nghệ thuật, cái mỹ học của văn chương thuần túy như ý tưởng của văn hào Oscar Wilde đã nêu ở trên. Chúng tôi xin nêu ra những dẫn chứng các tác phẩm như: Ốc Mượn Hồn, Thần Giao Cách Cảm, Vọng Từ Đáy Mộ, Ngoại Tình. Tác phẩm đầu mang tên Con Ốc Mượn Hồn và Vọng Từ Đáy Mộ nghe vừa thơ mộng vừa huyền bí, nhưng nó là tiểu thuyết vô cùng lãng mạn và hấp dẫn người đọc. Hai tác phẩm sau là Thần Giao Cách Cảm và Ngoại Tình cùng khá gần gũi với Ốc Mượn Hồn trong cung cách nhìn từ quan điểm Oscar Wilde.

Cuộc bàn cãi về sự khác biệt giữa “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh”:

Khi chúng ta nhìn lại văn học sử Việt Nam qua những cuộc bàn cãi về “vị nghệ thuật” hay “vị nhân sinh” trong giai đoạn gần giữa tiền bán thế kỷ 20. Cuộc bàn cãi về sự khác biệt giữa hệ phái “Nghệ thuật vị nhân sinh” do Hải Triều dẫn đầu và hệ phái “Nghệ thuật vị nghệ thuật” do Hoài Thanh chủ trương diễn ra từ năm 1935 đến năm 1939 như sau.

Chủ trương của phái “Nghệ thuật vị nhân sinh” là phục vụ xã hội. Nghệ thuật phải bao gồm các lãnh vực đạo đức, thẩm mỹ, giai cấp và những sự việc liên quan đến chính trị có thể gây thương tổn hay tai hại đến nghệ thuật. Ngược lại, phái “Nghệ thuật vị nghệ thuật” theo xu hướng văn chương lãng mạn, tự do, thể hiện giá trị nghệ thuật đích thực, thoát khỏi áp đặt về luân lý, răn dạy, không phục vụ bất cứ gì khác ngoài nghệ thuật. Cuộc bàn cãi đưa đến kết quả và diễn tiến như sau:

Trong lãnh vực văn chương: Sự bàn cãi về quan điểm nghệ thuật cho rằng: Một số tác phẩm với khuynh hướng văn học cụ thể như trong truyện Kiều (nhân vật Thúy Kiều). Đại văn hào Nguyễn du đã dùng văn chương lãng mạn để diễn tả sự hy sinh của Thúy Kiều với trách nhiệm và bổn phận làm con đối với gia đình, nhưng một số tác giả lại cho rằng truyện Kiều là một dâm thư. Anh em chúng tôi khẳng định rằng, đây thực sự là một tác phẩm kết hợp bởi cả hai xu hướng “Nghệ thuật vị nghệ thuật” và “Nghệ thuật vị nhân sinh”.

Có thể nói cuộc bàn cãi sôi nổi nhất là chung quanh vấn đề thơ mới và thơ cũ từ 1933 đến 1937. Cuộc tranh luận từng được mệnh danh là giữa phái “Nghệ thuật vị nhân sinh” do Hải Triều dẫn đầu và phái “Nghệ thuật thuật vị nghệ thuật” do Hoài Thanh cầm đầu trong các năm từ 1935 đến 1939. Thực ra cuộc bàn cãi khởi đầu trước đó là giữa nhà văn Hải Triều và nhà văn Thiếu Sơn.

Trên Tiểu thuyết thứ Bảy số 38 ra ngày 16-2-1935, Thiếu Sơn đăng bài “Hai quan niệm về văn học”, ông phản đối quan niệm coi trọng chức năng giáo huấn và tác động xã hội trong văn chương của Nguyễn Bá Học, Phạm Quỳnh. Thiếu Sơn chủ trương đề cao các thể loại như tiểu thuyết và thi ca, ông quan niệm “lấy nghệ thuật làm gốc”, “trau dồi cái đẹp”. Hải Triều cũng không kém qua bài viết bài về “Nghệ thuật vị nghệ thuật, nghệ thuật vị nhân sinh” để đáp lại quan niệm của Thiếu Sơn. Hải Triều chất vấn “Nghệ thuật là cái gì?” ông phản đối “Quan niệm duy tâm”, coi nghệ thuật là “cái sản vật thần bí, màu nhiệm của tình cảm và của đấng thiêng liêng, là siêu phẩm, huyền diệu, không dính dáng đến xã hội, không dính dáng đến nhân sinh”.

Theo Hải Triều “Nghệ thuật là một cái sản vật của sự sinh hoạt xã hội (L’art est un produit de la vie sociale) những trạng thái sinh hoạt giữa xã hội phản chiếu vào trong tâm trí người ta, sinh vui, sinh buồn, sinh giận, sinh tiếc, sinh chán, sinh tham…Nghệ thuật sắp đặt những tình cảm ấy cho có hệ thống rồi diễn ra thành những hình ảnh thiết thực, hoặc bằng lời nói, bằng câu văn, bằng âm điệu, bằng vận động (như nhảy múa) hoặc nhiều cách kiểu khác có hình thức rõ ràng như kiến trúc, đắp tượng”. Ông đưa ra quan điểm của Hippolyte Taine, Denis Diderot, Leo Tolstoy và những tác giả có cùng khuynh hướng như Charles Dickens, Fyodor Dostoevsky, Richard Millet, Victor Hugo, Henri Barbusse, Roland Barthes, v.v… về nghệ thuật vị nhân sinh.

Trên tập san Nghiên cứu văn học số 1 tháng 1-1960 đã đăng bài “Nhìn lại cuộc tranh luận về nghệ thuật hồi 1935-1936”. Hoài Thanh, tỏ thái độ chân thành nhưng gay gắt qua những câu phê bình như sau: “Phái vị nghệ thuật trước sau cố từ chối không chịu nhận cái danh hiệu ấy…Nhưng thái độ của họ trên thực chất là một thái độ thoát ly chính trị mà thoát ly chính trị không vị chính trị thì còn vị gì? Cho nên gọi họ là phái nghệ thuật vị nghệ thuật cũng là phải”.

Tóm lại, những điều nêu trên về cuộc bàn cãi quan điểm nghệ thuật thời kỳ 1935-1939, cần nêu lên những nhận xét như sau:

- Cuộc bàn cãi mang tính chất biện luận chủ quan và biện hộ cho lý lẽ cá nhân, chưa thấu hiểu rõ về ý nghĩa của nghệ thuật, thiếu sự khách quan và khoa học.

Trước hết phái Hoài Thanh không hề có ý định tranh luận hay bút chiến với phái Hải Triều nhưng khi ông thấy Hải Triều phê bình tác phẩm “Kép Tư Bền” của Nguyễn Công Hoan quá đáng và không đúng với tính chất phê bình văn chương theo quan điểm “Nghệ thuật vị nghệ thuật”, khiến ông quật lại đối phương. Trong khi hệ phái Hải Triều chủ trương một lý tưởng nghệ thuật có ích cho dân tộc, cho xã hội và văn chương (tức văn hóa). Đó là lý do khởi đầu cho cuộc tranh luận giữa Hoài Thanh và Hải Triều.

Khách quan mà nhận xét thì phái Hoài Thanh có thế mạnh ở điểm đi gần với chân lý nghệ thuật, như của Hugo, Tolstoy, v.v... Riêng lập luận của phía Hải Triều ở thế mạnh trong việc quan tâm nhiều đến lý thuyết tranh đấu cho một lý tưởng nghệ thuật cao cả, nhưng khách quan vừa là thuộc phạm vi cá nhân vừa là thuộc phạm vi xã hội thời đại. Tóm lại, cả hai bên đều muốn giữ lý tưởng riêng và lý lẽ kiên quyết của mình.

- Trên lý thuyết, chúng ta cần xét lại mấu chốt của quan niệm, định nghĩa, văn chương về nghệ thuật là gì? Nguồn gốc nghệ thuật và văn chương tiêu biểu là gì? Đồng ý rằng, văn chương nghệ thuật có liên hệ mật thiết tới đạo đức học, triết học và chính trị học, có tính chất giai cấp và nhân bản, nhưng trên thực tế nó đã tìm được điều gì thực dụng, hoàn mỹ và sự liên hệ giữa hai yếu tính đó đã đi song hành với nhau như thế nào? Chính vì vậy mà văn chương còn có tính thời đại và tính trường tồn; tính nhất thời và tính bền vữn;, tính biến động và tính bất biến trong cùng nội dung và hình thức…Nhưng phải hiểu thế nào cho đúng về mối tương quan giữa các tính tương khắc cũng như tính tương hợp của nó?

Tóm lại để có một sự nhận xét tương đối công bằng cho cuộc bàn cãi về quan điểm nghệ thuật trong thời kỳ 1935-1939, chúng ta nên đặt cuộc bàn cãi này vào tiến trình suy xét, phát triển quan điểm nghệ thuật trong lãnh vực văn học sử của nền văn hóa dân tộc cũng như khóa trình xét nghiệm về mối tương quan giữa văn chương, đạo lý và nhận thức về phạm vi văn chương.

Có thể nói, nếu quy luật đặc thù và ý niệm bảo thủ của văn học thuở trung đại, đi kèm theo hiện tượng văn học sử, công thêm sự hiện diện của quy tắc đạo đức, tôn giáo tâm linh thì sẽ làm giảm nhẹ tính chất mỹ học của văn chương, nhất là khi ta mang ý tưởng “Văn dĩ tải đạo”, hay “Thi ngôn chí”, hoặc“Văn dĩ quán đạo”. Với những quan niệm văn chương như thế, văn gần như chỉ còn là phương tiện để chuyên chở đạo cho đời mà thôi. Nhưng trên đà phát triển của văn chương và theo đà tiến hoá văn học của từng xứ sở, văn chương tức nghệ thuật chuyên chở chữ nghĩa cũng thay đổi theo thời đại.

Kết luận:

Xét theo ý niệm văn học với nét mỹ tính hay nghệ thuật văn chương, trong thực tế của đời sống văn học trên hai phương diện lý thuyết và sáng tác: Tính chất sáng tác dù là văn tùy bút, tiểu thuyết hay văn phóng sự, khảo cứu bình luận, cũng có ít nhiều nét văn chương bị tính chủ quan ảnh hưởng, để cho văn chương đượm nét chân phương, khách quan.

Là một nhà văn hay những người cầm bút, chúng ta nên chọn xu hướng của nghệ thuật văn chương mà mình muốn, dù đó là nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh thì tuỳ theo "đối tượng" bởi vì "văn là người", thế nên chính bản chất của văn chương phát sinh từ cuộc sống, nên văn chương phản ảnh nhân bản tính hay cũng là bản chất của con người.

Vì vậy, văn học trọng mỹ tính, không chỉ dừng lại ở giá trị văn chương mà còn góp phần xây đắp tình yêu thương giữa người với người trong xã hội. Trong trường hợp của hai hệ phái văn chương Hoài Thanh và hệ phái Hải Triều và những tranh luận giữa hai hệ phái.

Nếu xét về phương diện xã hội, văn chương phục vụ đời sồng nhân sinh, thì đó là sự chọn lựa của Hải Triều. Còn nếu xét về phương diện mỹ thuật của văn chương theo ý muốn cá nhân, ly khai những ảnh hưởng, những áp đặt của xã hội thì đó là sự chọn lựa Với Hoài Thanh. Theo tiểu thuyết gia Francis Scott Key Fitzgerald cho rằng "Đó là một phần vẻ đẹp của mọi nền văn học khi bạn tìm được ra rằng điều ước muốn của mình là nỗi khát vọng chung, rằng bạn không cô đơn và bị cô lập với bất kỳ ai mà bạn quen biết." (1)

Lời cuối, như anh em chúng tôi đã bàn bạc, Khánh Lan và Việt Hải mượn lời của tác giả Bồ Đào Nha Fernando Pessoa qua danh tác “The Book of Disquiet”, được chuyển ngữ ra nhiều thứ tiếng, nội dung mang tính tự thuật theo khuynh hướng "Nghệ thuật vi nghệ thuật" với lập luận là: "Văn học là phương cách dễ chịu nhất khi ta ly khai cuộc sống." (2)

Nguyên thủy từ ý tưởng của thi sĩ Théophile Gautier đã khám phá ra ý tưởng nghe Nghệ thuật vị nghệ thuật, đây là một trong những yếu tố quan trọng của bài viết này. Trong phạm vi quyển sách này, chúng tôi xin được nêu ra một số văn hào ngoại quốc, đã ghi dấu ấn trong nền văn chương Việt Nam cũng như những tác phẩm văn chương của các nhà văn được bàn trong những bài viết sau đây, để ôn chút lịch sử văn chương qua 2 hệ phái: “Nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh”. (California October 2020)

Khánh Lan & Việt Hải




Ghi chú:

- (1): F. Scott Fitzgerald, “That is part of the beauty of all literature. You discover that your longings are universal longings, that you're not lonely and isolated from anyone. You belong.”

- (2): Fernando Pessoa,The Book of Disquiet. "Literature is the most agreeable way of ignoring life.”

Sách tham khảo:

1. Book Hunter Club, Trần Đình Sử.
2. Văn Học Sài Gòn, Thiếu Sơn nhà văn chính trực.
3. Phê Bình Văn Học, Hoài Thanh, Thùy Lam.
4. Thanh Lãng, Tài Liệu Phê bình văn học.
5. Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh Nghệ thuật vị nhân sinh.
6. Nghệ thuật vị nhân sinh & Nghệ thuật vị nghệ thuật, Hồ Quân.
7. Đỗ Kiên Cường - Vị nhân sinh đúng hay sai?
8. Ý Nghĩa của Nghệ Thuật - Võ Công Liêm.
9. Art for Art's Sake, by Christopher L. C. E. Witcombe.
10. Théophile Gautier et "L'Art pour l'Art", par E. M. Cioran.
(Tác phẩm Mademoiselle de Maupin,Théophile Gautier.




Khánh Lan

































































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com