<BGSOUND src="Nhac Bai.mp3"> Le Dinh










Đông Kha (nhacxua.vn) biên soạn








































































































Những mỹ nhân nghệ sĩ
của một thời Saigon

Đông Kha (nhacxua.vn) biên soạn







"Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ " (Thơ Vu Đinh Liên)

Trong bài viết này, mời các bạn ngược thời gian trở về khoảng thời gian gần 70 năm trước, vào thời kỳ ngay trước và sau khi đất nước bị chia đôi, làng văn nghệ Sài Gòn cũng vừa tiếp nhận thêm những nghệ sĩ di cư từ miền Bắc vào thập niên 1950, đó là Thái Hằng, Thái Thanh, Tâm Vấn, Bích Hợp, Kim Chung, Ánh Tuyết… cùng với những nghệ sĩ xuất thân ở Sài Gòn là Kim Cương, Túy Phượng, Thẩm Thúy Hằng, Bích Sơn, Trang Thiên Kim… làm phong phú thêm cho làng nghệ thuật Sài Gòn. Thời điểm này tạp chí Kịch Ảnh là tờ báo nổi tiếng nhất chuyển viết về nghệ thuật, và bìa báo thường đăng hình những tên tuổi nổi tiếng nhất của làng văn nghệ thời đó. Mời các bạn xem lại hình ảnh của những nữ nghệ sĩ Sài Gòn thập niên 1950 trên bìa báo Kịch Ảnh được xuất bản năm 1957, phần lớn trong số họ đã trở thành những tên tuổi huyền thoại của làng nghệ thuật, kể cả về tài năng lẫn nhan sắc:

Hình bìa của Kịch Ảnh số 1 phát hành ngày 12/6/1957 là “kiều nữ” Bích Sơn. Trong làng sân khấu miền Nam trước 1975, công chúng cuối thập niên 1950, đầu 1960 vẫn còn nhớ đến nghệ sĩ Bích Sơn cùng với mỹ danh là “kiều nữ” độc nhất vô nhị, từng nổi danh trên sân khấu đoàn cải lương Thuý Nga trong vở “Khi Hoa Anh Đào Nở” của đôi tác giả Hà Triều – Hoa Phượng. Nét đặc trưng của kiều nữ Bích Sơn là chấm mụt ruồi duyên dáng bên má phải, đôi mắt mơ mộng và nụ cười thoáng buồn, lúc nào cũng xuất hiện với mái tóc dài phủ bờ vai, có giọng hát ấm áp truyền cảm và đặc biệt là ngâm thơ rất hay. Bích Sơn sinh năm 1939 ở Hà Nội, là cháu gọi “đệ nhất đào thương” Bích Thuận là dì ruột. Năm 1952, khi Bích Thuận theo đoàn hát Kim Chung vô Sài Gòn, bà đã mang theo 2 người cháu là Bích Sơn, Bích Thủy. Năm 1955, Bích Sơn vào ban Xuân Thu của nhạc sĩ Lê Thương và khởi đầu với tân nhạc. Trong cùng năm đó, sau khi nghệ sĩ Bích Thuận lập gánh hát riêng thì đưa Bích Thuận về hát cải lương. Thi sĩ Kiên Giang – Hà Huy Hà lúc đó được mời viết kịch bản tuồng cho đoàn Bích Thuận, ông thấy Bích Sơn duyên dáng xinh đẹp nên đem lòng mến mộ và viết báo ca ngợi nàng là kiều nữ. Từ đó mỹ danh này đi theo cả cuộc đời nghệ thuật của Bích Sơn.

Ảnh bìa của Kịch Ảnh số 2 chính là nữ minh tinh tài sắc, được xem là đệ nhất mỹ nhân của làng nghệ thuật Sài Gòn là Thẩm Thúy Hằng. Lúc này bà mới 17 tuổi, được công chúng biết đến sau khi đóng vai chính trong phim Người Đẹp Bình Dương của hãng Mỹ Vân. Mỹ danh “Người đẹp Bình Dương” cũng đã đi theo Thẩm Thúy Hằng trong suốt sự nghiệp. Thẩm Thúy Hằng tên thật là Nguyễn Kim Phụng năm 1940 tại Hải Phòng, khi chưa đầy năm, bà cùng gia đình trở về miền Nam (1941) và lớn lên ở An Giang. Từ khi cô thiếu nữ Kim Phụng lên 16 tuổi học lớp Đệ tứ (lớp 9 bây giờ) đã nức tiếng là một hoa khôi trong giới học sinh. Lúc đó Kim Phụng lén gia đình tham gia cuộc thi tuyển diễn viên điện ảnh của hãng phim Mỹ Vân và đạt giải nhất của cuộc thi sau khi vượt qua 2000 thí sinh khác nhờ vậy nên được nhận vai Yến Tam Nương trong phim Người Đẹp Bình Dương, khởi đầu cho sự nghiệp nghệ thuật lừng lẫy của bà.

Hình bìa Kịch Ảnh số 3 là nghệ sĩ Bích Hợp, người được mệnh danh là “đệ nhất đào thương Bắc Hà”. Sở dĩ có mỹ danh này, đó là vì bà là nghệ sĩ cải lương nổi tiếng nhất khắp miền Bắc từ thập niên 1940, có nhan sắc vừa sắc sảo và khả ái ở ngoài đời cho đến lúc lên sân khấu. Tuy nhiên hồng nhan bạc phận, cuộc đời Bích Hợp trải qua rất nhiều chuyện éo le ngay từ khi còn ở tuổi thiếu nữ cho đến lúc qua đời năm 1978 vì bạo bệnh.

Hình bìa Kịch Ảnh số 4 là “nữ tài tài màn bạc” Thu Cúc, được biết đến qua cuốn phim “Hương Thề Chưa Dứt” năm 1957. Thu Cúc sinh năm 1939, xuất thân từ gia đình khá giả, hấp thụ văn hóa Tây Phương. Bà được phát hiện từ một cuộc tuyển lựa diễn viên qua hình trên tờ báo Nhân Loại, sau đó được hãng Alpha chú ý mời thử vai cho cuốn phim có tựa là “Đôi Uyên Ương”, nhưng phim không thực hiện. Sau đó, Thu Cúc được xuất hiện bên cạnh nam tài tử Anh Tứ trong phim “Hương thề chưa dứt” năm 1957, là cuốn phim đầu tay giúp bà nổi tiếng.

Hình bìa Kịch Ảnh số 7 là nữ ca sĩ tài sắc Thúy Nga, cũng là phu nhân của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Ca sĩ Thúy Nga sinh năm 1936 tại Hải Phòng, theo gia đình di cư vào Nam năm 1954. Năm 1955, bà tham gia dự thi và đạt giải cuộc thi tuyển lựa tài tử của đài phát thanh tổ chức. Lúc đó hình ảnh của Thúy Nga rất đặc biệt, vừa hát vừa chơi đàn Accordion, choáng hết nửa phần trên của hình dáng, với mái tóc dài thả ngang lưng. Thời ấy, ca sĩ vừa hát vừa chơi nhạc cụ rất hiếm, cùng lắm là có vài nam ca sĩ vừa cầm guitar vừa hát, nên Thúy Nga và cây đàn phong cầm trên sân khấu đã trở thành một hình ảnh rất ấn tượng với những người đi xem nhạc thuở đó, đồng thời chiếm được cảm tình của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Chàng nhạc sĩ đã thành danh Hoàng Thi Thơ và cô ca sĩ trẻ Thúy Nga nhanh chóng thành một đôi, nhạc sĩ trở thành thầy dạy nhạc cho ca sĩ, và tình thầy trò nhanh chóng trở thành tình vợ chồng vào tháng 9 năm 1957. Tờ Kịch Ảnh có hình Thúy Nga bên trên được phát hành vào tháng 7 năm 1957, chỉ 2 tháng trước khi Thúy Nga thành hôn với nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Họ có với nhau 3 người con trai và 1 con gái, chung sống hạnh phúc cho đến khi nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ qua đời năm 2001, và Thúy Nga cũng đã ra đi sau đó 9 năm. Sự nghiệp âm nhạc của Thúy Nga chỉ kéo dài vỏn vẹn hơn 3 năm, không có thành tựu nào nổi bật, là bởi vì ngay sau khi lấy chồng, bà chấp nhận rời xa sân khấu để chăm sóc gia đình, chỉ thỉnh thoảng mới thu âm trong băng và dĩa nhạc.

Hình bìa Kịch Ảnh số 8 là nữ danh ca tài sắc vẹn toàn Mộc Lan. Bà không chỉ sở hữu giọng hát đẹp và chuẩn mực, mà còn là người có sắc nước hương trời từng một thời được những tao nhân mặc khách cùng những nhạc sĩ nổi tiếng theo đuổi. Mộc Lan là người vợ đầu tiên của nhạc sĩ Châu Kỳ, đồng thời cũng có những giai thoại ly kỳ về tình cảm mà các nhạc sĩ Đoàn Chuẩn và Hoàng Trọng đã dành cho bà vào thập niên 1950. Danh ca Mộc Lan tên thật là Phạm Thị Ngà, sinh năm 1931 tại Hải Phòng. Khi bà mới 7 tuổi thì mồ côi cha, thời gian sau đó gia đình rơi vào thảm cảnh bi đát, tan đàn xẻ nghé. Đầu thập niên 1940, vì muốn thoát khỏi hoàn cảnh khó khăn thiếu thốn, người anh cả trong nhà tên là Long đã dẫn 2 người em gái là Ngọc và Ngà (Mộc Lan) vào Sài Gòn tha phương cầu thực. Dù hoàn cảnh khó khăn, không được học hành đến nơi đến chốn, nhưng Mộc Lan đã sớm bộc lộ được khả năng thiên phú về âm nhạc. Lớn lên, cô được nhạc sĩ Lê Thương phát hiện và dẫn dắt bước vào con được ca hát, và chính nhạc sĩ này cũng là người đặt cho bà nghệ danh là Mộc Lan. Sự nghiệp của Mộc Lan lên đến đỉnh cao từ cuối thập niên 1940, cùng với chồng là nhạc sĩ Châu Kỳ trở thành cặp đôi đẹp cả trên sân khấu lẫn ngoài đời. Tuy nhiên hồng nhạc bạc phận, cuộc đời Mộc Lan sau đó trải qua những thăng trầm trong tình cảm riêng tư. Mặc dù vậy thì ở trên sân khấu bà vẫn rực rỡ cả về nhan sắc lẫn giọng hát, được rất nhiều người mến mộ.

Hình bìa Kích Ảnh số 12 là ca sĩ Linh Sơn. Có lẽ với đa số những người yêu nhạc, cái tên Linh Sơn còn rất lạ lẫm, thậm chí là lần đầu được nghe tới. Tuy nhiên vào đầu thập niên 1950, Linh Sơn là một trong những nữ ca sĩ quen thuộc nhất của đài phát thanh Pháp Á. Ca sĩ Linh Sơn sinh năm 1936 tại Nghệ An và lớn lên tại Sài Gòn. Năm 14 tuổi (1950), Linh Sơn đăng ký thi tuyển lựa ca sĩ của đài phát thanh Pháp Á và được giải Nhì, từ đó mở ra con đường ca hát. Bà được nhạc trưởng Trần Văn Lý dìu dắt trong ban Nhi đồng đài Pháp Á, trình diễn hàng tuần trên làn sóng điện. Vốn có sẵn giọng hát êm dịu, lại thêm cố gắng rèn luyện và được các nhạc sĩ Văn Thanh dạy vỡ lòng về nhạc lý, nhạc sĩ Võ Đức Tuyết và Dương Thiệu Tước bổ túc những kinh nghiệm chuyên môn, nên không bao lâu Linh Sơn đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng, được khán giả Sài Gòn đón nhận nồng nhiệt. Thập niên 1950, Linh Sơn đã hợp tác với các ban nhạc Văn Phụng, Hạc Thành, Lôi Tiên, Gió Bắc, Võ Đức Tuyết… và các ban kịch Hoàng Hải, Vũ Huyến, Châu Kỳ.

Hình bìa Kịch Ảnh số 14 là minh tinh điện ảnh Trang Thiên Kim, xuất thân là “chiêu đãi viên hàng không” (nay là tiếp viên hàng không) của hãng hàng không Air Việt Nam. Một lần Trang Thiên Kim đọc báo thấy tuyển lựa tài tử, bà đến hãng phim xin đóng thử, rồi chỉ 3 ngày sau thì được nhận chính thức. Vai diễn đầu tiên của Trang Thiên Kim là trong phim “Mục Liên Thanh Đề”. Tháng 7/1957, phim được ra mắt sau một tháng khởi quay, bà trở thành diễn viên được nhiều người biết đến và được các nhà làm phim săn đón. Khi đang là một ngôi sao sáng trong buổi đầu của nền điện ảnh non trẻ, Trang Thiên Kim đột ngột đi du học rồi định cư tại Mỹ, để lại nhiều nuối tiếc trong lòng khán giả hâm mộ điện ảnh.

Hình bìa Kịch Ảnh số 16 là đệ nhất danh ca Thái Thanh, khi này bà mới 23 tuổi nhưng đã là một tên tuổi chói sáng của làng nhạc Sài Gòn. Có lẽ không cần nói quá nhiều về danh ca Thái Thanh, vì đã có quá nhiều bài viết nói về tiểu sử, cuộc đời và sự nghiệp lừng lẫy của bà.

Hình bìa Kịch Ảnh số 17 là “kỳ nữ” Kim Cương, là nghệ sĩ nổi tiếng của Việt Nam trong các lĩnh vực sân khấu cải lương – kịch nói và điện ảnh. Nghệ sĩ Kim Cương sinh năm 1937 tại Huế, trong một gia đình truyền thống nghệ thuật, với bà cố, bà nội và cha đều làm bầu gánh. Bà đến với sân khấu từ lúc mới sinh được 10 ngày tuổi trong vai con của Quan Âm Thị Kính. Sự nghiệp diễn xuất của Kim Cương đến rất sớm, bà nhanh chóng trở thành đào non trong đoàn Đại Phước Cương, cùng cha mẹ và các thành viên trong đoàn đi lưu diễn khắp nơi. Bà nổi tiếng trong những vai kịch buồn rơi nước mắt hay những vai dí dỏm. Giữa thập niên 1950, ký giả Nguyễn Ang Ca đặt biệt hiệu “kỳ nữ” cho bà, từ đó dân chúng biết đến danh hiệu Kỳ nữ Kim Cương.

Hình bìa Kịch Ảnh số 19 là hoa hậu Thu Trang, cũng là một diễn viên điện ảnh có sắc đẹp sắc sảo, được kể lại là người trong mộng một thời của thi sĩ Bùi Giáng. Hoa hậu Thu Trang tên thật là Công Thị Nghĩa, sinh năm 1932 tại làng Ngọc Hà, Hà Nội trong một gia đình tiểu tư sản. Năm 1942, cha của bà vốn là một công chức chính quyền thuộc địa được điều động vào Sài Gòn làm việc, cả gia đình theo ông vào miền Nam và định cư ở Sài Gòn. Nhiều người nhầm lẫn khi nói rằng Thu Trang là hoa hậu đầu tiên của Việt Nam, nhưng thực ra cô chỉ là hoa hậu của cuộc thi nhan sắc đầu tiên được chính quyền VNCH tổ chức ở Nam Việt Nam vào năm 1955. Còn trước đó, từ thời Pháp thuộc thì đã có nhiều cuộc thi hoa hậu ở khắp Đông Dương. Sau khi thắng giải cuộc thi sắc đẹp đó, Thu Trang được mời đónh một vai phụ trong phim Chúng Tôi Muốn Sống (tài tử Lê Quỳnh đóng vai chính). Cuốn phim thứ 2, cũng là vai diễn định mệnh, Thu Trang vào vai Kiều Nguyệt Nga trong phim chuyển thể từ áng thơ bất hủ của cụ Đồ Chiểu, đó là phim Lục Vân Tiên do Tống Ngọc Hạp làm đạo diễn. Vì tham gia đóng phim này, giữa Thu Trang và Tống Ngọc Hạp nảy sinh mối tình ngang trái, vì lúc đó Tống Ngọc Hạp đã có gia đình. Cũng vì sự kiện đó mà cuộc đời Thu Trang bước qua một bước ngoặt lớn, bà rút khỏi sự nghiệp nghệ thuật ngắn ngủi để làm mẹ đơn thân thầm lặng, đến năm 1951 thì đưa người con mang tên Tống Ngọc Vân Tiên sang Pháp định cư.

Hình bìa Kịch Ảnh số 22 là danh ca Ánh Tuyết (của thập niên 1950, không phải Ánh Tuyết sau này) có giọng hát được nhà văn Hồ Trường An mô tả là “rung ngời ánh sáng, ngát lịm âm ba vang xa”. Ca sĩ Ánh Tuyết tên thật là Hoàng Bạch Tuyết, sinh năm 1935 tại Hải Phòng. Năm 1954, bà di cư vào Sài Gòn, xuất hiện trong các đại nhạc hội và trên đài phát thanh, sau đó cộng tác với hầu hết các phòng trà, vũ trường nổi tiếng cùng các ban nhạc Hoàng Thi Thơ, Xuân Lôi, Hoàng Trọng, Võ Đức Tuyết. Ánh Tuyết có nhan sắc vô cùng khả ái và sắc sảo, được mô tả như sau: “Nàng bước lên sân khấu phòng trà rực rỡ, giọng hát đẹp tuyệt như tấm gấm đại hồng thuê hoa mặt nguyệt bằng ngân tuyết xen kim tuyến, lại thêm lối ăn mặc trau chuốt, yêu kiều, nét mặt duyên dáng làm xao xuyến bao nhiêu trái tim những tao nhân mặc khách”.

Hình bìa Kịch Ảnh số 25 là danh ca Tâm Vấn, là một trong những danh ca đầu tiên của nền tân nhạc Việt Nam. Bà nổi tiếng từ đầu thập niên 1950, có một giọng ca đầy quyến rũ. Danh ca Tâm Vấn tên thật là Dương Thị Vân, sinh năm 1934 tại Hà Nội. Bà có giọng ca lả lướt đầy rung cảm, được nhạc sĩ Trần Văn Nhơn chú ý đến khi nền tân nhạc mới bắt đầu phát triển mạnh mẽ tại Hà Nội. Tên tuổi của bà được biết đến từ những năm đầu thập kỷ 1950 trên làn sóng của Đài phát thanh Hà Nội, Đài phát thanh Pháp Á, Đài Vô tuyến Việt Nam. Tâm Vấn di cư vào Nam từ trước năm 1954 và tiếp tục hát tại các đài phát thanh và truyền hình Sài Gòn thời gian khá lâu cho tới khi tạm ngưng vì bận chuyện gia đình.

Hình bìa Kịch Ảnh số 26 là nữ nghệ sĩ Kim Chung – Phu nhân của ông bầu Trần Viết Long, một người Tây học. Họ cùng nhau thành lập đoàn cải lương danh tiếng từ Bắc chí Nam vào năm 1950 tại Hà Nội. Năm 1954, vợ chồng bầu Long và nghệ sĩ Kim Chung quyết định chuyển một nửa đoàn cải lương Kim Chung vào Sài Gòn. Một nửa đoàn Kim Chung ở lại Hà Nội, do vợ chồng người em là Tiêu Lang và Kim Xuân quán xuyến. Một nửa Kim Chung ở Hà Nội sau đó bị tan rã, còn số phận Kim Chung ở Sài Gòn đã được phát triển rực rỡ, phần lớn tài danh sân khấu cải lương của phương Nam đã từng ở trong đoàn Kim Chung: Út Trà Ôn, Hùng Cường, Tấn Tài, Út Bạch Lan, Thanh Hải, Diệu Hiền, Lệ Thủy, Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ, và 3 chàng Minh: Minh Cảnh, Minh Phụng, Minh Vương…

Hình bìa của Kịch Ảnh số 28 là danh ca Thái Hằng, vợ của nhạc sĩ Phạm Duy, là chị ruột của nhạc sĩ Phạm Đình Chương và danh ca Thái Thanh. Hình chụp này vào năm 1957, khi Phạm Duy – Thái Hằng đã có 4 người con trai Duy Quang – Duy Minh – Duy Hùng – Duy Cường. Sau khi lập gia đình, Thái Hằng không còn hoạt động nghệ thuật thường xuyên mà lui về sau chăm sóc gia đình, chỉ thỉnh thoảng hát trong ban hợp ca Thăng Long và đóng kịch trên đài phát thanh.

Hình bìa Kịch Ảnh số 29 là ca sĩ, minh tinh màn bạc Tuyết Vân nổi tuyết trong thập niên 1950. Tuyết Vân quê ở Mỹ Tho, bước chân vào làng nghệ thuật Sài Gòn sau cuộc thi tuyển lựa tài tử ở rạp Norodom do đài Pháp Á tổ chức. Bước ra từ cuộc thi này, Tuyết Vân gia nhập ban nhạc của Lê Thương với nghệ danh là Bích Giang, có giọng hát mềm mại và trong trẻo, đồng thời sở hữu nhan sắc đoan trang thùy mị. Khởi đầu là ca sĩ tân nhạc, sau đó trở thành diễn viên kịch của ban Dân Nam, rồi Tuyết Vân chính thức bước vào làng điện ảnh qua bộ phim đầu tay Hương Thề Chưa Dứt do Thái Thúc Nha làm đạo diễn, trong đó bà đóng nữ chính bên cạnh Anh Tứ. Tuyết Vân vừa đóng kịch vừa ca hát trong ban Dân Nam của bà Túy Hoa, nơi có Túy Phượng (con của bà Túy Hoa) lúc đang độ thanh sắc lẫy lừng, nhưng Tuyết Vân vẫn có bản sắc riêng, không kém Túy Phượng về tài diễn kịch lẫn nhan sắc. Sau đó Tuyết Vân chuyển qua cộng tác cho ban Kim Cương một thời gian thì đột nhiên bị phá tướng, lại mất tiếng nên đành giải nghệ sớm.

Hình bìa Kịch Ảnh số 31 là cô Vũ Thị Minh Thư – Hoa hậu hội chợ giải trí Sài Gòn được tổ chức vào cuối năm 1957, trao giải dịp đầu năm 1958. Hoa Hậu Minh Thư sinh năm 1941, là người quê ở Hải Phòng, lúc được giải hoa hậu đang là học sinh lớp đệ tứ trường trung học Nguyễn Bá Tòng. Cùng trong cuộc thi này còn có người chị mang tên Vũ Thị Minh Tâm được giải ba.

Hình bìa tờ Kịch Ảnh số 32 là nữ nghệ sĩ Túy Phượng, ái nữ của cố nữ kịch sĩ Túy Hoa. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Túy Phương được mệnh danh là “nữ hoàng nhạc twist, có vóc người nhỏ nhắn, cân đối, khuôn mặt được kết hợp bởi những đường nét cong, mềm và thanh tú. Sở hữu nét đẹp sắc sảo, cô từng được giải Hoa Hậu Đông phương.


Đông Kha (nhacxua. vn) biên soạn





























































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com