<BGSOUND src="Nhac Bai.mp3"> Le Dinh










“Mũ Đen” Hoàng Nhật Thơ








































































































Người Lính VNCH
trong kho tàng âm nhạc Việt Nam

“Mũ Đen” Hoàng Nhật Thơ








Ba mươi lăm năm lặng lẽ trôi qua, vết thương “gãy súng” hầu như chưa khép lại một giây trong lòng những Người Lính VNCH... Văn chương, ngôn từ dù có diễn tả, sắp xếp khéo léo đến đâu, cũng không nói lên được trọn vẹn những bi hùng, tang thương của Người Lính VNCH trong và sau cuộc chiến. Xin hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần “Vị Quốc Vong Thân” của các anh như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc. “Vinh Danh-Tưởng Niệm-Tri Ân” Người Lính Việt Nam Cộng Hoà.

Trở ngược dòng lịch sử cách đây trên 56 năm, vào ngày 20/07/54, Thực dân Pháp và Cộng sản Bắc Việt đã ký Hiệp Định Geneve chia đôi đất nước Việt Nam, dòng sông Bến Hải nơi vĩ tuyến 17 được chọn làm ranh giới giữa hai miền Nam Bắc. Miền Bắc bị Hồ Chí Minh cai trị bằng chủ nghĩa cộng sản khát máu, phi nhân, bạo tàn; Miền Nam được Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo theo chủ nghĩa Nhân Vị với phương châm “Dân Vi Quý - Xã Tắc Thứ Chi - Quân Vi Khinh”. Ngay sau khi đất nước bị chia đôi, cộng sản đã gài lại miền Nam một số cán bộ nồng cốt để thực hiện ý đồ xâm lược và nhuộm đỏ nửa phần còn lại của đất nước bằng vũ lực. Những năm cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, cộng sản bắt đầu chính sách khủng bố, bắt cóc, ám sát, thủ tiêu các viên chức xã ấp và đánh phá các đồn bót hẻo lánh của Việt Nam Cộng Hòa. Trước sự bành trướng ý đồ xâm lược của cộng sản, hằng hằng lớp lớp thanh niên của miền Nam đã giã biệt kinh kỳ, lên đường đáp lời sông núi, làm tròn bổn phận và trách nhiệm của người trai trong thời loạn.

“Bạn ơi, quan hà xin cạn chén ly bôi, ngày mai tôi đã đã đi xa rồi... thành đô lưu luyến chắn bước chân tôi, trước giờ chia phôi mấy ai không bùi ngùi, kỷ niệm buồn vui mãi ghi trong hồn tôi...”. Những ngày nơi “Trung Tâm 3 Tuyển Mộ và Ngập Ngũ” lập thủ tục hồ sơ, chờ đợi đi thụ huấn tại quân trường, niềm vui của những chàng trai mới vừa chập chững bước vào ngưỡng cửa quân đội là “Hôm nay ngày Chủ Nhật, Vườn Tao Ngộ em đến thăm anh... đường Quang Trung nắng đổ xa xôi mà em đâu có ngại khi tình yêu ngun ngút cao lên rồi...” Ngày vui với bao sự nôn nao, đợi chờ trong tâm trạng miên man đã đến, những người trai đi viết sử xanh cho mai sau đã đặt bước chân vào ngưỡng cửa quân trường... bài học đầu đời trong cuộc sống quân ngũ nơi lò luyện thép là kỷ luật của quân đội, là thi hành trước khiếu nại sau... Người khóa sinh khép mình trong khuôn khổ thời gian nơi quân trường, ngoài những buổi học tập về quân sự, tâm lý chiến, nhân cách, lý tưởng và trách nhiệm của Người Lính VNCH... người khóa sinh phải rèn luyện tinh thần, nghị lực, ý chí sắt đá... rèn luyện thể lực khỏe mạnh có sức chịu đựng dẻo dai, bền bỉ và cũng để chống chọi với mọi thời tiết khắc nghiệt... ngày ba buổi trên đường đi ra bãi tập và trên đường về, người khóa sinh lưng mang balô, đầu đội nón sắt, súng cầm tay... vừa chạy đều bước vừa vận dụng hết bình dưỡng khí trong hai lá phổi để hát thật to “Đường trường xa, muôn vó câu bay dập dồn, đoàn hùng binh trong sương lướt gió reo vang, đi đi đi lời thề nguyền tung gươm thiêng thi gan trai, đời hùng cường quyết chiến đấu đoàn quân ra đi...”, “Trên đầu súng quê hương, Tổ Quốc đã vươn mình, trên lưỡi lê căm hờn, hờn căm như triều sóng, ôi xôn xao chiêng trống hối thúc đã giục giã khắp chốn rộn ràng, ôi lửa thiêng dậy bập bùng, tay đốt lửa tay vung kiếm. Trên đầu súng xâm lăng, xiềng xích với bạo tàn, trên lưỡi lê nô lệ cùm gông phải gục ngã, tay nâng niu cây súng súng thép với đạn đồng mới đã lên nòng và những loạt đạn đồng vàng, bông lúa trổ tràn đồng sâu...”; “Quyết chiến, thề quyết chiến... Quyết chiến... quyết không cần hòa bình đen tối, chẳng liên hiệp ngồi chung quân bán nước vong nô. Quyết chiến, thề quyết chiến... Quyết chiến... đánh cho đến cùng dù mình phải chết, để mai này về sau con cháu ta sống còn. Vận nước đang vươn lên, hằng ngàn chiến công chưa quên, hằng vạn xác quân vong nô đã chứng minh cho sức mạnh hào hùng quân dân. Thề chớ bao lui chân, ngồi cùng với quân xâm lăng. Ta thề chết chớ không hề lui... Quyết không hề phản bội quê hương... Ta thề chết chớ không hề lui... Quyết không hề phản bội quê hương... “, những bài hùng ca quyện theo nhịp bước của những đôi chân cứng đá mềm, khói bụi tung bay mịt mờ trên đường ra xạ trường, bãi tập... thao trường đổ mồ hôi miệt mài cho đến khi đứng nghiêm trước bàn thờ Tổ Quốc, nhận lãnh sáu chữ “Tổ Quốc-Danh Dự-Trách Nhiệm” với lời thề “Vị Quốc Vong Thân”, người thanh niên tuổi trẻ ngày nào... giờ đây thật sự trở thành Người Lính.

Đêm cuối cùng nơi quân trường, tiếng vui cười rộn rã nâng ly chúc tụng xen lẫn lời quyến luyến chia tay chúc nhau may mắn trên con đường binh nghiệp mai sau “Cuộc liên hoan nửa khuya sắp tàn, mà sao tình mình thêm chứa chan... Xiết tay nhau mến trao lần cuối, viết cho nhau những dòng lưu niệm của những ngày trong quân trường mình sống yêu thương...”. Sau vài ngày phép ngắn ngủi, những Người Lính mới còn thơm mùi nắng quân trường... mang hành trang “Tổ Quốc Trên Hết” trình diện đơn vị thuộc các quân binh chủng QLVNCH, hiện diện trên khắp nẻo đường đất nước làm nhiệm vụ gìn giữ, bảo vệ quê hương “Gio Linh đón thây giặc về làm phân xanh cây lá, Pleime gió mưa mùa, Tây Ninh nắng nung người mà trận địa thì loang máu tuơi, Đồng Tháp vắng bóng hồng, hỏi tôi yêu ai...”; Ngày hành quân nắng cháy, thân thể bốc khói hoặc lạnh buốt dưới cơn mưa tầm tả thấm qua chiếc poncho mỏng manh... những hạt mưa ngừng rơi thì màn đêm sắp phủ trùm lên vạn vật “Chiều bàn giao cho vùng đêm đen biên giới, theo cánh quân anh đóng ven lưng chừng đồi, nghe muôn côn trùng than trong đêm trường sầu thương thế nhân...”, Người Lính suy tư nhìn ánh hỏa châu sáng rực ở một góc trời “Ôi đẹp làm sao... màu hỏa châu đêm đêm tô son, tô phấn những con đường, ôi những con đường mang nặng đau thương... Cho anh nhận diện quê hương giữa đêm đen buồn bằng những dòng sông chảy xuôi đêm trường, ôi những dòng sông nhẫn nhục đau thương...”, có những đêm dài trong cái lều vải cá nhân nhỏ bé, Người Lính nâng niu cánh thư hồng nuốt từng chữ “Từ bàn tay tiên, nắn nót từng nét gửi cho anh, để anh vui bước đường quân hành. Môi em đang xinh, mắt em vẫn tình... màu xanh vẽ nổi đôi tim, ghi dấu ngày đầu ta biết mình...”.

Xếp lại lá thư thơm mùi giấy học trò... Người Lính gối đầu lên chiếc balô, mỉm cười với bao ý nghĩ như thầm gởi đến ai đó “Xa quá người ơi... kỷ niệm ngọc ngà, vòng tay ấm bờ môi, mắt nhìn thật đậm đà... nhưng thép súng đang còn say máu thù, hẹn em khi khắp trời nở đầy hoa có tôi về...”. Đem cuộc đời hiến dâng cho non sông, tổ quốc... Người Lính chỉ mơ ước ngày nào đó chiến chinh tàn, quê hương không còn bóng dáng giặc thù cộng sản “rồi anh sẽ dìu em tìm thăm mộ bia kín trong nghĩa địa buồn, bạn anh đó đang say ngủ yên, xin cảm ơn... xin cảm ơn người nằm xuống...”. Ước mơ nhỏ bé đưa anh thiếp vào giấc ngủ... Vạn vật đắm chìm trong màn đêm tĩnh lặng, phố phường còn đang ngủ say, thì anh “Lội bùn dơ băng lau lách xuyên đêm, sương trắng rơi vai tôi ướt lạnh mềm, chim muông buồn rủ nhau bay về đâu, ngẫn ngơ lũ vượn gọi nhau...”. Người Lính ẩn hiện trong màn sương rồi khuất chìm trong mưa giăng kín lối “Chiều mưa biên giới anh đi về đâu... sao còn đứng ngóng nơi giang đầu, kìa rừng chiều âm u rét mướt, chờ người về vui trong giá buốt, người về bơ vơ...”, Người Lính tạm dừng bước quân hành, nuốt vội chút lương khô khi những hạt mưa bong bóng cuối cùng vừa vỡ tan trên dòng sông Hương thơ mộng... thành phố đã lên đèn... Đất Thần Kinh cổ kính với bao danh lam, thắng cảnh, trăng nước hữu tình đã đi vào văn chương, âm nhạc Việt Nam. Tiếng chuông Thiên Mụ thánh thoát ngân vang chùn chân bao lữ khách... chiếc nón bài thơ nghiêng nắng, tà áo dài thướt tha trên cầu Tràng Tiền đã làm ngẫn ngơ bao chàng trai hùng... trên đường dập dìu tài tử, giai nhân tăng thêm nét sinh động, rực rỡ sắc màu của phố phường... vài chiếc đò con lững lờ trên dòng nước Hương Giang tĩnh lặng... núi Ngự Bình im lắng tháng năm mây che đầu núi là đề tài muôn thuở của văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ. Một cơn gió buốt khẽ khơi dậy tâm tư Người Lính trẻ xa nhà “Ngày xa thành phố nỗi vui cùng nỗi buồn đầy ấp balô nặng lắm. Tám thằng trong chúng tôi, đứa nghiêng vai ngồi tiếc nuối, đứa khoanh tay nhìn trời. Xa nhau trong vài giờ không gian thì lại cách xa ngút ngàn rồi em ơi... gió sông Hương lạnh lắm phải chăng sông núi lạnh hay tại vì anh xa em...”. Đưa mắt nhìn về phương trời xa, nhớ lại đêm nao... em nghẹn ngào tiễn đưa... anh ôm em vào lòng, vuốt nhẹ bờ vai thì thầm khẽ bảo đời lính là “Tám hướng bốn phương trời mây, thôi nhé anh đi từ đây... kỷ niệm nào không có vui hay buồn, chiều nào không có hoàng hôn, tình nào hơn nước non...”

Những buổi chiều nhạt nắng hoàng hôn nơi tiền đồn biên giới, hoặc những đêm ngước nhìn sao trời lấp lánh... “Tôi chỉ nghĩ... quê mẹ không phải riêng ai... không của anh, không của em mà của mọi người. Xin gởi đến bằng tiếng nói trong tôi, không bị rơi ngoài bầu trời... cho đời lính một niềm vui...”. Gót giày saut giẫm tàn những ngày nắng Hạ... úa chiếc lá mùa Thu... tan cái giá rét mùa Đông... ánh nắng hồng trải dài khắp muôn nơi mang nàng Xuân đến với thế gian... Người Lính lại thất hứa với mẹ thêm một lần nữa “Con biết không về mẹ chờ em trông, nhưng nếu con về bạn bè thương mong, bao lứa trai cùng chào Xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm... Mẹ ơi, con Xuân này vắng nhà...”. Trên con đường “Bảo Quốc-An Dân” ... Người Lính đem sinh mạng, một phần thân thể giữ từng tấc đất của quê hương... Người Lính nào tiếc chi dòng máu thắm tuôn đổ để đổi lấy cuộc sống ấm no, hạnh phúc, giấc ngủ an lành cho người dân hậu phương. Những nơi Người Lính đến rồi đi đã gieo lại trong lòng người dân sự thương mến, quyến luyến lúc chia tay cũng như tình cảm thầm kín hiện lên trong ánh mắt của những người em gái hậu phương, nhưng... “Thương yêu này xin gởi cho mây cuối phương trời, ngày mai tôi lên đường, thôi đành xa đành mất, đời lính là muôn nơi... thành phố này xin trả cho người...”.

Sau những tháng ngày dài cắm ngọn cờ chiến thắng trên những thân xác “Sinh Bắc-Tử Nam”, đơn vị được về thành phố đôi ba ngày... tình cờ gặp lại những thằng bạn cũ, thôi thì nâng chén mềm môi... ngả nghiêng trời đất “Túy ngọa sa trường quân mặc tiếu... Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi” ... “Đường phố khuya rồi, chênh chếch bóng trăng soi... uống cạn hết ly này ghi nhớ mãi đêm nay... Minh ba người tuy không gian chia làm muôn lối, nhưng là một thôi...”. Bạn bè kẻ nơi người ngã... thằng lướt gió tung mây, thằng vượt sóng trùng khơi, thằng mòn gót giày cùng chung một lý tưởng “Vì Nước quên thân... Vì Dân chiến đấu” ... cho đến một ngày...

Một ngày gãy súng tang thương, uất nghẹn... Người tự sát để bảo toàn khí tiết kẻ chinh nhân... Người hối hả kinh hoàng rời khỏi quê hương trước khi làn sóng đỏ phủ trùm lên đất mẹ “Một ngày bảy lăm, con bỏ hết giang san, hai mươi năm tình... yêu người yêu cuộc sống... giờ nơi nước mình niềm đau thay nỗi vui... Sài Gòn đã chết rồi phải mang tên xác người...”; Người mang khăn gói bị lừa vào tử địa “Trại Cải Tạo” với chính sách gian trá “một tháng học tập” không có ngày về “Chiều trong tù, anh nhớ em... Ôi đất trời dường như tấm khăn, bưng kín đời người trong tối tăm, phương hướng nào nhìn ra mắt em. Hàng song sầu che mắt sâu, những bóng người ngẫn ngơ ngó nhau, tay xanh nào thầm ra dấu đau thay cho lời chào thăm mỗi chiều...”; Người thì tìm đủ mọi cách để rời khỏi cái thiên đàng ngập máu và nước mắt của người dân, ra đi đối diện tử thần trên trùng dương bao la, với một hy vọng mong manh được trôi giạt đến bến bờ tự do nào đó trên thế giới “Đêm nay, đêm tối trời anh bỏ quê hương... ra đi trên chiếc thuyền hy vọng vượt trùng dương... Anh đâu đâu có ngờ đêm buồn, bỏ lại em cay đắng thật thương... hò ơi... hò ơi tạm biệt nước non...”; Người lê tấm thân phế tàn bị lũ thú mang danh “giải phóng” nhìn bằng cặp mắt hận thù, xua đuổi bên lề cõi sống... những đêm khuya lang thang khập khễnh nạng gỗ, lết lê cuộc đời “gãy súng” trong mưa gió trên con đường thống khổ, tang thương kéo dài trên 35 năm, không biết đi về đâu ngay chính trên quê hương của mình “Ôi một ngày ba mươi đó, chiến chinh tàn gieo tang tóc thê lương, người chiến binh tự sát không quy hàng, khắp xóm làng hằng vạn người phơi thây! Ôi một ngày ba mươi đó, kiếp lao tù không một bữa ăn no, ngày đem thân cày thay thế trâu bò, đêm tối về đói lạnh nằm co ro! Mưa rơi... rơi lạnh buốt thân tôi, đi về đâu thành phố đổi tên rồi. Tim rỉ máu... tôi nhớ tháng tư xưa, ngày ba mươi máu nhuộm đỏ quê nhà...Tim rỉ máu, tôi nhớ tháng tư xưa, ngày ba mươi máu nhuộm đỏ quê hương...”!!!

Những người may mắn đến được bến bờ tự do... chiều chiều ngóng trông về cố quốc với bao nỗi xót xa, não nề trong tâm trạng của người “ngã ngựa” lê cuộc sống lưu vong, biệt xứ... “ Chiều nay có một người di tản buồn... gọi anh em còn ai hay mất ai... còn bao nhiêu thằng xông pha chiến khu và bao nhiêu nằm trong những lao tù... Ở đây có những chiều mưa rất nhiều, nhiều hơn khi hành quân trong tháng mưa... Buồn hơn đêm rừng thưa vắng tiếng bom... ngày vui ơi giờ đâu nữa không còn... Cho tôi xin lại ngọn đồi ở nơi tôi dừng quân cũ... cho tôi xin lại bờ rừng nơi từng chiến đấu bên nhau... cho tôi xin một lần chào, chào bao nhiêu người đã khuất... xin cho tôi một mộ phần bên ngàn chiến hữu của tôi...”

Những tháng ngày đầu bỡ ngỡ nơi đất lạ quê người rồi cũng qua đi, những gót giày saut viễn xứ đã tạm ổn định cuộc sống, họ hít thở bầu không khí tự do bao nhiêu thì họ càng thương nhớ, xót xa cho những người đồng đội, chiến hữu bấy nhiêu đang hứng chịu cực hình, tra tấn trong lao tù cộng sản... “Ai trở về xứ Việt, nhắn giùm ta người ấy ở trong tù... nghe đâu đây vang giọng hờn rên xiết, dài lắm không đằng đẵng mấy mùa Thu... Ai trở về xứ Việt, thăm giùm ta người ấy ở trong tù... cho ta gởi một mảnh trời xanh biếc, thay giùm ai màu trời âm u... Các bạn ta ơi bao giờ được thả... đến bao giờ ăn được bát cơm tươi... được lắng nghe tiếng chim cười... đến bao giờ... đến bao giờ... đến bao giờ...”; Chính sách nhân đạo của chính phủ Hoa Kỳ đã mang những người tù “gãy súng” từ cõi chết, có bằng tốt nghiệp “cải tạo” ba năm trở lên sang định cư tại Mỹ trong chương trình “H.O” ...

Dòng đời lặng lẽ trôi qua... ngoảnh lại nhìn thoáng đó đã trên 35 năm, mái tóc ba phân khét mùi thuốc súng ngày nào... giờ đây sợi còn, sợi mất... trắng nhiều hơn đen hoặc sương tuyết phủ kín mái đầu... khuôn mặt hằn bao vết tích tang thương “Tháng Tư Đen... ba triệu người biệt xứ... Tháng Tư Đen... ôi máu đỏ lao tù... Tháng Tư Đen... xác người ngập đại dương... Tháng Tư Đen... trời quê cha tang trắng... Tháng Tư Đen... thương đất mẹ ngập sầu... Tháng Tư Đen... con bước hận lưu vong. Quê hương tôi chết từ ngày gãy súng, bạn bè tôi nằm chết không mồ... nghĩa trang buồn giặc tàn phá tan hoang. Ai trở về bên ấy, xây giùm tôi Biên Hòa nghĩa trang xưa, gom giùm tôi những nắm xương tàn, dựng lại cho tôi pho tượng Thương Tiếc xưa...” Dòng thời gian nghiệt ngã xoáy vào tâm hồn “Người Lính già xa quê hương, nhưng trong tim chưa tàn ánh lửa vẫn ước một ngày theo bước Quang Trung... vẫn thấy quê hương đêm ngày réo gọi... vẫn thấy trong tim canh cánh đường về... vẫn thấy nơi đây chỉ là đất tạm... thầm hẹn ngày về chết giữa quê hương...”!



Người Lính năm xưa nhất định phải trở về...

“Ta sẽ về Đông Hà, ta sẽ về Gio Linh,
Giành lại đất quê hương xây bằng nước mắt,
Giành lại đất quê hương tháng năm mồ hôi.

Ta sẽ về Cam Lộ, ta sẽ về Triệu Phong,
Bằng con tim lửa cháy, bằng bàn tay xiết lại,
Bằng hờn căm ngàn đời Gio Linh ơi.

Đây giờ đã đến, giờ bão tố,
Giờ sấm sét ngay trên đầu giặc,
Giờ hờn căm quân dân ta vùng lên,
Giờ phản công, giờ oai linh đã đến,
Giờ oai linh đã đến.

Từ không trung, anh hùng mây xanh,
Từ đại dương, anh hùng biển khơi,
Đây bộ binh sức mạnh tuyệt vời,
Ta sẽ thắng, ta sẽ thắng.

Ta sẽ về Sài Gòn, ta sẽ về Thừa Thiên,
Giành lại đất quê hương chan hòa ánh nắng,
Giành lại đất quê hương thiết tha ngàn đời.

Ta sẽ về Hà Nội, ta chiếm lại Thăng Long,
Bằng con tim hẹn ước, bằng dòng máu kiêu hùng,
Hận thù nung lòng người Thăng Long ơi.

Đây giờ đã đến, giờ bão tố,
Giờ sấm sét ngay trên đầu giặc.
Giờ hờn căm quân dân ta vùng lên.
Giờ phản công, giờ oai linh đã đến,
Giờ oai linh đã đến.

Từ không trung, anh hùng mây xanh,
Từ đại dương, anh hùng biển khơi,
Đây bộ binh sức mạnh tuyệt vời,
Ta sẽ thắng, ta sẽ thắng”.


“Mũ Đen” Hoàng Nhật Thơ
































































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com