<BGSOUND src="Nhac Bai.mp3"> Le Dinh










Internet








































































































Chuyện nổ ở Xã Hội Chủ Nghĩa

Internet





nghệ siêu quần, ý chí vô địch

Đồng chí Lê Thị Riêng là một anh hùng. Một lần kia, chị đang đi giao liên, thì bị một trung đội lính Mỹ cả gần 50 tên, bao vây. Đồng Chí Lê Thị Riêng dũng cảm chiến đấu với bọn Mỹ to gấp 3 mình, chị đấm, chị đá, từng tên lính Mỹ ngã ngửa. Cuối cùng cả một trung đội lính Mỹ bị một mình đồng chí Lê Thị Riêng đánh ngã. Đồng chí Lê Thị Riêng thu được gần 50 khẩu súng, kéo về đơn vị, được thưởng danh hiệu “Anh Hùng Chống Mỹ Cứu Nước.” Trong chuyện “MẪN VÀ TÔI”, vai chính được điều đi nghiên cứu căn cứ Chu Lai. Anh muốn đến gần căn cứ Ngụy, nhưng không thể được vì có một bãi cát mênh mông bên ngoài hàng rào kẽm gai địch. Anh đợi đến tối, bò vào bãi cát đó, lấy tay đào lỗ để mình nằm xuống cát, cho đầu quay vào phía hàng rào, rồi lấy cát lấp lên mình. Ban đêm thì nhỏm dậy, lấy ống nhòm nhìn vào trại địch, ghi chép các hoạt động địch. Ban ngày thì lấy cát đắp lên mình, nằm yên không động đậy, địch di chuyển chung quanh nhưng không phát giác được. Anh nằm dưới cát gần tuần lễ, không ăn, không uống, không đi vệ sinh, thở dưới cát, dưới trời nóng mấy chục độ, ghi chép được nhiều trang tài liệu, rồi lẳng lặng rút lui an toàn, mang về báo cáo với cấp trên. Dựa vào tài liệu mà anh ghi chép, bộ đội ta tiến đánh, chiếm căn cứ Chu Lai mà không thiệt hại nhân mạng. Cũng trong chuyện này, các nữ giao liên, khi có tháng, thì bới lấy lá rau răm, nhai nát, cầm được kinh nguyệt, để tiếp tục chiến đấu, không gặp trở ngại. Một chuyện khác: Một đồng chí giao liên đang đi công tác tại rừng gần Qui Nhơn, bất ngờ gặp cọp. Trong súng anh chỉ có một viên đạn. Anh và cọp vờn nhau chung quanh một gốc cây mãi. Hễ cọp đi sang bên trái thì anh lướt qua bên phải, đợi khi cọp sơ ý, anh nổ súng trúng ngay óc cọp, con cọp ngã xuống chết tốt.

Can đảm:

Tổ trưởng du kích Kiều Văn Niết bị “Mỹ Ngụy” bắn gần đứt cánh tay, chỉ còn dính miếng da ‘toòng teeng’ trên vai mà vẫn tiếp tục chiến đấu quên cả chuyện đau đớn. Khi “Mỹ Ngụy” bị đánh lui anh ta mới nghĩ đến việc dứt bỏ cánh tay ấy bằng cách kê bàn tay lên bờ đất rồi một bàn chân đạp lên bàn tay của cánh tay bị đứt gần lìa dùng hết sức giựt cho bung phần da trên đầu cánh tay khỏi thân mình nhưng không được. Cuối cùng phải nhờ một “đồng chí” khác dùng con dao, mà lại là dao cùn cắt miếng da cho cánh tay lìa khỏi mình. Đồng chí Kiều Văn Niết đã được thưởng “Huân Chương Hồ Chí Minh”.

Nón cối chống được bom B.52

Một buồi chiều nọ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 được ít hôm có một bộ đội cộng sản Bắc Việt ngồi trước cửa nhà người bạn tôi với một đám con nít ồn ào bu quanh cười nói ồn ào. Trong nhà hai đứa chúng tôi ngồi im lặng nhìn nhau mà trong lòng thì “buồn nẫu ruột” vì không biết số phận mình cũng như gia đình sẽ ra sao trong những ngày tới. Chợt nghe thấy một đứa trẻ hỏi:

- Cái nón này kêu là nón gì ?

- Không phải nón mà là mũ !

- Ừ thì gọi là mũ, mà mũ gì ?

- Mũ bộ đội.

Không cần đợi lũ trẻ hỏi tiếp, anh chàng bộ đội kể nào là đội mũ này thì rất an toàn cho cái đầu, nào là anh ta đã từng bị bom B52 “rơi trên đầu” nhưng nhờ đội chiếc mũ ấy mà vẫn không hề hấn gì. Rồi anh ta còn khoe là mũ này là do “Bác Hồ” tặng cho trước khi lên đường vào Nam.

Đạn bắn máy bay:

Khi chiến tranh giữa Việt Cộng với Trung Cộng nổ ra ở mấy tỉnh biên giới cán bộ trại Nam Hà kể với các tù nhân chính trị rằng “nhà nước ta” được Liên Sô viện trợ cho một loại súng tối tân, bắn ra một phát thì viên đạn sẽ tách ra thành nhiều viên khác nhau mỗi viên hướng vào một mục tiêu, vì thế cho nên Trung Quốc dùng máy bay tấn công “ta” họ đã phải ngưng vì bị thiệt hại nhiều máy bay quá. Hỏi súng ấy là súng gì thì tay cán bộ nói tỉnh bơ như ruồi là súng ấy nhẹ lắm, một người lính có thể vác trên vai dễ dàng, và lúc bắn chỉ cần đặt xuống đất rồi lắp đạn vào rồi hướng nòng súng lên trời mà bóp cò thôi, chẳng cần nhắm vì máy điện tử có gắn sẵn trong súng nhắm dùm.

Trong một lần được người nhà thăm nuôi

Nhóm tù chính trị đem đồ ăn ra nấu nướng ăn chung với nhau mà củi để nấu thì phần còn tươi, phần ướt vì nước mưa hồi hôm cho nên cứ khói um lên. Thấy vậy một tay cán bộ công an lại gần nói:

- Ở đây các anh không có điều kiện chứ còn ở Thái Bình người ta lấy cọc dài đóng sâu xuống đất, và khi rút lên thì dầu lửa phun ra. Cứ thế họ đặt mấy hòn gạch làm “ông đầu rau” rồi bắt nồi lên, và chỉ cần một mồi lửa là hơi dầu bốc cháy. Mau lắm, chỉ chút xíu là nồi to, nồi nhỏ, nồi lớn, nồi bé, đều sôi lên sùng sục.

Người tù hỏi lại:

- Vậy lúc muốn tắt lửa thì làm thế nào?

- Thì lấy hòn gạch chặn cái lỗ ấy là lửa tắt mà dầu cũng ngưng phụt lên!

< Không chiến:

Một cán bộ kể cho tù nghe:

- Các anh đánh giặc dở lắm. Thua chúng tôi là phải. Không quân chúng tôi có chiến thuật rất hay. Khi B52 của Mỹ đến oanh tạc miền Bắc, “máy bay ta” tắt máy núp trong mây chờ B52 của Mỹ đến là bất ngờ “xồ” ra bắn hạ nó. Khi “giặc lái “ nhẩy dù” ra ngoài thì “chiến sĩ ta” không cần đeo dù mà phóng ra khỏi máy bay của mình để bắt sống cho được tên “giặc lái” ngay tại trên không, mà không cần chờ cho giặc lái rơi xuống đất.

Mỏ Cà Rem

Tại trại cải tạo Trảng Lớn, khi nghe Tổng Quản Giáo kể chuyện về miền Bắc là “rừng vàng, biển bạc”, mỏ gì cũng có, một cải tạo viên giơ tay hỏi:

- Cán bộ cho hỏi: ở ngoài Bắc có mỏ Cà Rem không?

- Gì chứ mỏ Cà Rem thì thiếu gì!

Một anh khác hỏi:

- Có mỏ Bíp tếch không?

- Ối giời, mỏ Bíp Tếch ở miền cực Bắc nước ta.

Khi nói chuyện đến xe hơi Xã hội Chủ Nghĩa, cán bộ Tổng Quản Giáo cũng khoe là có đủ loại xe tối tân nhất thế giới, một anh giơ tay hỏi:

- Thế có xe Ma Nhê Tô Phôn không? (Máy Magnetophone)

- Có chứ! Xe Ma Nhê gì đó chạy đầy đường miền Bắc.

- Thế.. chắc có cả xe Cát Xét?

- Làm sao không có! Đã nói là xe Xã Hội Chủ Nghĩa tối tân nhất thế giới mà lị.

Tay không quật ngã máy bay lên thẳng

(Một bài báo chính thức):

Năm 18 tuổi, theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc, từ biệt quê hương Tân Dương (Thủy Nguyên, TP.Hải Phòng), đồng chí Kiểm khoác ba lô lên đường nhập ngũ, chiến đấu tại mặt trận 44 Quảng – Đà (Quảng Nam – Đà Nẵng ngày nay). Hơn 15 năm cầm súng chinh chiến dọc một dãi chiến trường miền trung, ông đã lập nên những kỳ tích huyền thoại khi hạ một mình hơn 8 chiếc máy bay UH – 1 và hàng chục xe tăng, thiết giáp của Mỹ ngụy. Đất nước giải phóng, dù bận rộn với cuộc sống mưu sinh nhọc nhằn, nhưng người cựu binh năm nào vẫn còn đau đáu một nỗi lòng với những người đồng đội đang nằm lại nơi rừng xanh, núi cao chưa tìm thấy hài cốt. Từ năm 1990 đến nay, ông đã thực hiện hàng trăm chuyến băng rừng, vượt suối về lại chiến trường xưa để tìm kiếm, cất bốc mộ đồng đội.

Người cựu binh nặng lòng với quá vãng ấy là ông Bùi Minh Kiểm (SN 1942, trú tại đường số 5, phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng), một “địa chỉ đỏ” trong hành trình đi tìm mộ liệt sĩ của thân nhân những người lính ngã xuống trên chiến trường Quảng – Đà. Huyền thoại tay không “quật ngã” trực thăng UH – 1 của Mỹ - ngụy Ông Kiểm đang kể cho con cháu nghe về những trận đánh năm xưa.

Sau nhiều lần tìm đến nhà, cuối cùng, chúng tôi cũng gặp được ông vừa trở về sau chuyến đi tìm kiếm hài cốt liệt sĩ ở khu vực rừng núi Bắc Trà My (tỉnh Quảng Nam). Căn nhà nhỏ nằm khuất sau con hẻm bỗng trở nên vui nhộn hơn thường ngày bởi tiếng cười nói của những người khách, cán bộ phường đến thăm. Nhìn người đàn ông tuổi ngoài lục tuần, thân hình nhỏ nhắn nhưng rắn chắc, khỏe mạnh, ít ai biết được rằng ông đã từng dùng đôi bàn tay ấy để ghì chặt một chiếc máy bay UH – 1 của Mỹ xuống mặt đất. Dẫn chúng tôi lên căn phòng chất đầy những kỷ vật một thời lửa đạn như: bi đông nước, ba lô con cóc, dép cao su…, ông kể: “Gia đình tôi có 4 anh em trai thì hết 3 người xung vào quân đội, 4 chị em gái cũng lần lượt vào thanh niên xung phong làm nhiệm vụ tiếp tế cho chiến trường lớn miền Nam. Riêng tôi con út nên được ở nhà, miễn nghĩa vụ quân sự. Nhưng đất nước đang chiến tranh, giặc giã, bạn bè cùng trang lứa đã xếp bút nghiêng lên đường, mình ở nhà sao được?” Mặc cho gia đình can ngăn, ông vẫn viết đơn nhập ngũ và xin vào chiến đấu ở mặt trận Quảng – Đà, một trong những mặt trận ác liệt nhất lúc bấy giờ. Sau gần nửa năm huấn luyện trong gian khổ, ông được biên chế vào đơn vị 91 Đặc công (thuộc Quân khu V), thực hiện các nhiệm vụ đánh “thọc” sâu bên trong lòng địch, bảo vệ các cứ điểm quan trọng. Với một người lính trẻ vừa kết thúc mấy tháng quân trường, đó bước thử thách khắc nghiệt, khó khăn. Trải qua những trận đánh ác liệt, có những lúc đối diện với cái chết trong gang tấc đã hun đúc tinh thần người lính trẻ. Sự ác liệt của chiến tranh, sự hy sinh mất mát của nhiều đồng đội, cũng không thể khiến ông khuất phục. Trong đời binh nghiệp của mình, ông nhớ nhất là trận đánh “không ngang sức” với kẻ thù, buộc ông phải gieo mình xuống sông để tránh bị rơi vào tay kẻ thù. Nhắc lại chuyện xưa, trong đôi mắt của người lính già ngấn lệ, hồi tưởng về một thời máu lửa đã qua.

Ông kể, đó là vào khoảng 9 giờ một ngày tháng 4/1968, khi đơn vị của ông gồm 4 người (thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 140 – Bộ Quốc phòng) đang đào hầm trên bãi cát gần bờ sông Vu Gia (thuộc huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam – PV) để bảo vệ một điểm trung chuyển đạn dược phục vụ mặt trận Quảng – Đà. Trong lúc 4 người đang đào công sự thì địch sử dụng máy bay do thám phát hiện. Chỉ khoảng một giờ sau, hàng chục chiếc trực thăng của địch bất ngờ đổ bộ xuống vị trí cách đơn vị ông chưa đến 20 mét. Trước khi đưa lính tới càn, bọn chúng đã cho pháo tập kích, dập tả tơi quanh khu vực bán kinh 1km trở lại. Trận pháo kích dữ dội đã làm 2 chiến sĩ của đơn vị trúng đạn, hy sinh. Biết địch chắc chắn sẽ cho quân càn tới để tiêu dịch cứ điểm quan trọng này nên ông và đồng đội Nguyễn Phú Thao (ngụ TP.Hải Phòng) quyết một phen sống mãi với quân thù. Ngoài hai khẩu AK, ba quả lựu đạn và một số ít cơ số đạn còn lại, hai người phải chống chọi với một tiểu đoàn trực thăng biệt động 37 của ngụy cùng hơn 150 lính biệt kích, có sự yểm trợ của pháo binh địch. “Lúc này, hai anh em chúng tôi chỉ liếc mắt nhìn nhau rồi lặng lẽ tiến vào công sự, đạn đã lên nòng và lựu đạn cũng sẵn sàng rút chốt. Không ai nói một lời, nín thở chờ tụi biệt kích tiến vào tầm ngắn.

Tụi nó sục sạo khắp nơi và khi đến gần phía bờ sông thì chúng tôi nhả đạn” - ông Kiểm nhớ lại. Gặp chốt chống cự, địch nhanh chóng tản ra tạo thành thế gọng kìm để bao vây hai người vào giữa. Nhưng những loạt đạn AK tạo ra vành đai lửa khiến địch không thể tiến lên. Sau ba giờ cầm chân địch, ông bị thương ở tay và đầu, máu chảy ra nhiều nhưng vẫn kiên trì cầm súng bắn ngăn địch tiếp cận công sự. Giữa lúc cuộc giằng co đang diễn ra ác liệt thì địch huy động trực thăng bắn róc két, pháo kích lần hai. Người lính già Bùi Minh Kiểm (đứng bế cháu, thứ 3 từ phải sang trái) cùng thân nhân những người đi tìm hài cốt liệt sĩ. Quân Mỹ - ngụy tưởng rằng, chúng đang đụng độ với một đơn vị bộ đội của ta nên tiếp tục cho quân đổ bộ và tăng cường hỏa lực trấn áp. “Quân địch sợ bị rơi vào điểm phục kích nên không dám tiến lên mà chỉ dùng hỏa lực tấn công từ xa. Nhưng nguy hiểm nhất là các trực thăng liên tục quần thảo trên đầu, súng máy và AK không thể xuyên thủng lớp thép phía dưới bụng máy bay” ông Kiếm kể. Giữa lúc “dầu sôi, lửa bỏng” ấy, đồng đội của ông Kiểm, tức ông cùng Nguyễn Phú Thao đã đưa ra một cách đánh táo bạo.

Khi chiếc UH – 1 rà tới chuẩn bị hạ thấp để bắn róc két thì ông Kiểm lao người lên dùng hai tay ghì càng máy bay xuống. Đôi bàn tay thép như chiếc nam châm hút chiếc UH – 1 xuống gần sát mặt đất. Viên phi công bất ngờ, chưa kịp gạt cần súng máy thì đã bị anh Thao từ bên dưới bắn thốc lên, thẳng vào buồng lái. Chiếc máy bay mất thăng bằng loạng choạng lao xuống, nổ tan xác. Tiếng nổ của chiếc UH – 1 đầu tiên đã khiến phía địch hoảng loạn, gọi cầu viện. Đến trưa cùng ngày, ông Kiểm và đồng đội vẫn giữ vững cứ điểm, không để địch tiến về phía bờ sông. Đợt pháo kích thứ ba của địch vừa dứt thì ba chiếc trực thăng UH – 1 hạ cánh xuống khu vực chiếc trực thăng bị rơi để tìm kiếm xác. Lợi dụng cơ hội này, hai người trườn tới vị trí thuận lợi để bắn hạ ba con “chim sắt”. Ông Kiểm hồi ức như mới vừa xảy ra đây “Trong khi anh Thao lên đạn súng máy thì tôi chạy thắng tới đuôi chiếc máy bay rút chốt lựu đạn quăng vào buồng lái. Chiếc thứ nhất nổ tan tành khiến hai chiếc kia hoảng sợ cất cánh bỏ chạy, nhưng đã bị lưới đạn của anh Thao nhả xuống, hai chiếc còn lại cũng bị hạ nốt”.

Đến cuối giờ chiều, hai khẩu súng đã gần hết đạn, không thể tiếp tục chống cự thêm. “Lúc đó hai tai tôi đã lãng đi vì tiếng nổ, đầu nhức, mắt mờ. Anh Thao cũng bị thương chảy máu khá nhiều. Hai chúng tôi hi vọng sẽ cầm cự đến được chiều tối, bọn địch sẽ phải rút lui, hoặc phía quân ta sẽ bổ sung lực lượng cứu viện” - ông Kiểm kể. Khi phát hiện hỏa lực phía ta bị suy giảm, địch bắt đầu cho quân tiến lên, quyết tâm bắt sống ổ kháng cự. Hai người vừa chiến đấu vừa tìm cách bò ra mép sông để tìm cơ hội thoát khỏi sự truy kích và đánh lạc hướng quân địch. Nhưng cả hai chưa bò ra đến nơi thì ông Thao trúng mảnh pháo xuyên qua đầu, hy sinh. Lúc đó, ông Kiểm nghĩ mình cũng sẽ chết vì chỉ còn lại ba viên đạn trong băng. Ông cố lôi xác đồng đội ra sông để cả hai cùng thả trôi theo dòng nước, không phải chết trong tay quân Mỹ - ngụy. Lê chút sức tàn ra tới sông, ông Kiểm thả mình xuống dòng nước bất tỉnh. Trôi theo dòng nước gần 6 km, sóng đánh ông tấp vào bờ. Tưởng chừng như đã nắm chắc cái chết, nhưng ông Kiểm được người dân trong vùng vớt lên, cứu sống.

Kể đến đây, ông Kiểm quay sang nhìn tấm di ảnh của ông Thao treo trang trọng trong nhà và ông xúc động: “Đến bây giờ, tôi cũng không nghĩ là mình may mắn còn sống. Cả đơn vị tôi hôm ấy đã hy sinh gần hết, chỉ còn lại tôi. Bà con đã nuôi dấu tôi hơn 2 tuần cho hồi phục rồi tìm đường trở lại đơn vị chiến đấu”. Sau trận ấy, ông được đơn vị tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhì. Đó xem như là phần thưởng cho lòng dũng cảm, kiên trung của người lính trẻ năm nào. Trở về đơn vị, ông và đồng đội lại bước vào những trận chiến gian khổ và khốc liệt hơn. Năm 1970, ông chuyển về công tác, chiến đấu và giữ chức vụ Chính trị viên Đại đội 11, Đoàn pháo binh 575. Cuối năm 1971, ông được đơn vị giao nhiệm vụ trinh sát, đặt đài quan sát trên đỉnh Bà Nà - Núi Chúa để theo dõi tình hình hoạt động của địch ở sân bay Đà Nẵng.

Nhớ lại trận đánh mà ông tham gia cùng các đơn vị ở Đoàn pháo binh 575 vào tháng 8/1972, ông không khỏi tự hào rằng mình là một trong những người được góp một phần nhỏ công lao vào chiến thắng giòn giã ấy. Trước đó, công tác chuẩn bị cho trận đánh “lịch sử” đã được lãnh đạo thống nhất phương án. Táo bạo và bất ngờ, các trận địa pháo của Đoàn 575 đặt tại trận địa Hòa Bình (Hòa Vang, TP.Đà Nẵng) và Điện Sơn (Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) phát hỏa lúc 5 giờ 35 ngày 2/8, ngay trước mũi hành quân tìm diệt của địch (cách trận địa Hòa Bình chỉ vài trăm mét). 80 viên hỏa tiễn “tìm” đúng mục tiêu, phá hủy 57 máy bay, diệt 147 tên Mỹ hầu hết là sĩ quan, giặc lái, kho xăng trong sân bay bốc cháy dữ dội 5 giờ liền, nhiều phương tiện chiến tranh của địch bị phá hủy.

Trận đánh để đời của Đoàn 575 đã làm giặc Mỹ ngớ ra không kịp đối phó... Lật giở tấm bản ghi thành tích chiến đấu của đơn vị năm nào, ông cười tự hào, “Gần 10 năm (1966-1975), Đoàn pháo binh 575 đã đánh hơn 500 trận, tiêu diệt 6.000 tên địch với hàng ngàn sĩ quan, phá hủy 780 máy bay, 1.000 xe quân sự, 200 khẩu pháo các loại, thiêu cháy 50 triệu lít xăng dầu và rất nhiều phương tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ. Đơn vị được tặng 10 Huân chương Quân công, hàng trăm Huân chương Chiến công, được tuyên dương đơn vị Anh hùng lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 31/3/1973...”.

Trong thời gian 1964- 1975, với những thành tích xuất sắc đã đạt được, ông Kiểm được tặng thưởng 2 Huân chương Chiến công, 4 danh hiệu Dũng sĩ (diệt Mỹ, diệt ngụy, diệt máy bay, diệt xe cơ giới), 3 Huân chương Chiến sĩ giải phóng, 1 Huân chương Kháng chiến và 31 bằng khen, giấy khen các loại...

Cuộc trò chuyện bỗng trầm xuống khi chúng tôi nhắc đến những chiến thắng, ông rưng rưng nước mắt: “Các cậu ấy không được thấy ngày độc lập, không được sống những ngày không có tiếng bom đạn. Nhiều người vẫn đã ngã xuống vẫn nằm lại giữa núi rừng lạnh lẽo, chưa tìm thấy mộ phần. Chưa tìm được các anh, tôi sao yên lòng mà nhắm mắt được”.


Internet





























































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com