<BGSOUND src="Nhac Bai.mp3"> Le Dinh










Mộc Lan biên dịch










































































































Mộc Lan biên dịch





Thượng Quan Vân Châu từng là minh tinh điện ảnh nổi tiếng ở Thượng Hải, bà đã tuyệt vọng trong “Cách mạng Văn hóa” và phải chọn kết thúc cuộc đời một cách bi thảm… (Theo: “Trăm năm chân tướng”)



Thượng Quan Vân Châu từng là một ngôi sao điện ảnh nổi đình nổi đám ở Thượng Hải, bà có một khoảng thời gian hoạt động nghệ thuật hào hoa với tiếng tăm lừng lẫy. Thời xuân sắc Thượng Quan Vân Châu đã từng rất kiều diễm mỹ lệ, được Mao Trạch Đông nhiều lần mật tiếp, còn làm thơ tặng bà. Bà đã thoát khỏi vận rủi trở thành “cánh hữu” nhờ nương tựa vào một bức thư, nhưng cũng vì phong thư đó đã khiến Giang Thanh – vốn là người vợ thứ tư của Mao – đại phát cơn ghen, và cuối cùng Thượng Quan Vân Châu bị bức hại đến tuyệt cảnh trong “Cách mạng Văn hóa”, phải dùng cách thức bi thảm để kết thúc cuộc đời mình. Bạn có thể gọi bà ấy là Vi Quân Lạc, nhưng bà ấy cũng có một cái tên rực rỡ khác – Thượng Quan Vân Châu.

Xin chào các bạn. Trong chương trình “Trăm năm chân tướng” hôm nay, chúng tôi sẽ cùng các bạn tiếp cận với một “ngọc nữ” chói lọi trong lịch sử điện ảnh Trung Quốc, hồi cố lại cuộc đời ngắn ngủi, rực rỡ nhưng cũng phóng túng và đầy bi thương của bà.

Những ngày tháng huy hoàng…

Thượng Quan Vân Châu sinh ra tại Vô Tích, Giang Tô. Năm 1937 khi kháng chiến chống Nhật bùng nổ, bà mới 16 tuổi, cùng chồng tị nạn tại Thượng Hải. Ban đầu để sinh kế, Thượng Quan Vân Châu làm nhân viên bán vé trong xưởng phim, nhưng vì có ngoại hình nổi bật nên bà đã được ông bầu chọn làm người mẫu, trưng ảnh bà triển lãm trên cửa sổ. Vào thời điểm đó, Thượng Hải là một “cô đảo” trong thời kỳ chiến tranh, có nền công nghiệp điện ảnh phồn vinh, tạo ra một số lượng lớn các minh tinh điện ảnh. Thượng Quan Vân Châu thanh xuân và yêu kiều cũng bắt đầu sự nghiệp diễn xuất tại thành phố đầy cơ hội này. (Photo: Thượng Quan Vân Châu (1920 – 1968)

Năm 1940, khi Thượng Quan Vân Châu đang thử vai cho bộ phim “Vương lão hổ thưởng thân”, bà đã được vị đạo diễn nổi tiếng Bặc Vạn Thương chọn, người cũng đã đặt nghệ danh cho bà là “Thượng Quan Vân Châu”. Sự kiện này trở thành dấu mốc khởi đầu cho quá trình bà bước chân vào sự nghiệp diễn xuất. Những ngày sau đó, Thượng Quan Vân Châu không ngừng rèn luyện bản thân, hầu như đi khắp các đoàn diễn xuất lớn nhỏ của Thượng Hải, ngay cả khi không được thù lao, bà vẫn tham gia biểu diễn.

Dần dần, bà trở nên nổi tiếng trong giới biểu diễn nghệ thuật với phong cách diễn xuất biến hóa và tài năng thiên phú của mình. Trên vũ đài kịch nói, Thượng Quan Vân Châu đã đóng một vai quan trọng trong vở “Mặt trời mọc” và “Thượng Hải dưới mái hiên”, và trở nên nổi tiếng với vai diễn Phồn Y trong vở “Lôi vũ”. Thông qua các bộ phim như “Nhất giang xuân thủy hướng Đông lưu” và “Thái thái vạn tuế” v.v., bà đã trở thành gương mặt quen thuộc trên màn ảnh rộng, khắc họa các nhân vật có tính cách khác nhau như một cô hầu gái quyến rũ và hư hỏng, một quý cô xấu tính và hợm hĩnh, hoặc một công nhân nhà máy bị bắt nạt…

Thượng Quan Vân Châu lúc này, giống như nghệ danh của bà – trở thành như ngọc trên mây, chói lọi đến lóa mắt. Tuy nhiên, vận mệnh luôn nằm ngoài ý muốn của con người. Trong bộ phim “Thái thái vạn tuế”, Thượng Quan Vân Châu có một câu nói: “Tôi cả đời này thực là quá bất hạnh, nếu dựng thành phim thì ai xem cũng muốn khóc”. “Nhân sinh như kịch”, vai diễn đã phảng phất phản chiếu định mệnh của bà.

Thời cuộc đổi thay, sóng gió bắt đầu…

Khi ĐCSTQ mới chấp chính, Thượng Quan Vân Châu vừa mới bước qua tuổi 30. Đây là thời điểm mà một nữ minh tinh có thể làm được rất nhiều điều, nhưng bà lại gặp phải một nút thắt trong sự nghiệp diễn xuất của mình. Bởi vì lối diễn, hình tượng và khí chất của bà không phù hợp để đại biểu cho “công, nông, binh” mà ĐCSTQ vốn muốn lợi dụng để tuyên truyền, Thượng Quan Vân Châu đã từng rơi vào tình huống khó xử khi không có cảnh địa phù hợp nào để biểu diễn. Để tiếp tục sự nghiệp hoạt động nghệ thuật của mình, bà đã chủ động tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghĩa” bản thân, hy vọng cải biến từ hình ảnh một “minh tinh cũ của Thượng Hải” thành một “công nhân văn nghệ của tân Trung Quốc”.

Theo ghi chép của kỳ san “Điện ảnh đại chúng” của Hoa lục, để rửa sạch cái gọi là “tình ý của giai cấp tư sản”, Thượng Quan Vân Châu đã tham gia một loạt các buổi biểu diễn gây quỹ cứu trợ thiên tai và lao quân, biểu diễn các vở kịch nói phản ánh cuộc cách mạng công nhân. Sau những năm 1950, bà ăn ở và sinh hoạt luôn trong rạp, diễn liên tục 131 suất với tần suất hai ba lần một ngày, và cuối cùng bị ngất trên sân khấu do làm việc quá sức và bị viêm phổi cấp tính.

Trong cuộc vận động “Đại chỉnh đốn văn nghệ” do ĐCSTQ khởi phát, dù bệnh tật, bà vẫn thường tham gia các cuộc hội nghị nơi “người người đều vượt qua hủ tục”. Trong nước mắt lưng tròng, bà “chủ động phản tỉnh và kiểm thảo tư tưởng giai cấp tư sản của bản thân”. Nhưng tất cả điều này đều vô ích.

Năm 1955, Thượng Quan Vân Châu đã ngồi ghế dự bị trong ba năm. Đạo diễn Bạch Trầm Lực đã vượt qua ý kiến số đông, chọn Thượng Quan Vân Châu để đóng vai nữ chính, một vị nữ y tá trưởng của đội du kích. Trong bộ phim này, bà đã triệt để phá bỏ những hình tượng trước đây của mình về “Giao tế hoa” và “Khoát thái thái”, hoàn toàn “thoát thai hoán cốt” theo vai diễn mới trên màn ảnh, và nhờ đó đạt được cái gọi là “thành công” lớn.

Hồng nhan bạc phận, nhân thế phũ phàng…

Vào tháng 1 năm 1956, Thượng Quan Vân Châu nhận được một bức thư đã cải biến vận mệnh của bà, bức thư chỉ có vỏn vẹn 10 chữ được ký tên Trần Nghị: “Đồng chí Thượng Quan Vân Châu, xin mời đến chơi”. Khi bà đến Tòa nhà Hữu nghị Trung-Xô được chỉ định, bà phát hiện ra rằng Mao Trạch Đông cũng đang ở đó, và Thượng Quan Vân Châu được sắp xếp để khiêu vũ cùng ông ta trong buổi khiêu vũ. Sau đó, Thượng Quan Vân Châu đã bí mật diện kiến Mao Trạch Đông 6 lần.

Vào thời điểm đó, phong trào “vận động phản hữu” đang khuynh đảo giới văn nghệ sĩ, Thượng Quan Vân Châu nguyên bị giới điện ảnh chụp mũ là “hữu phái”, đột nhiên thời vận xoay chuyển, trở thành “đối tượng được bảo hộ trọng điểm”, chỉ tiêu “hữu phái” bị đẩy sang một diễn viên khác thế chỗ. Giữa đó còn có những sáp khúc nhỏ. Tác gia đại lục Thiết Lưu từng tiết lộ: Thượng Quan Vân Chân đã bị Mao Trạch Đông lãng quên trong một thời gian, vì lý do này, bà đã tự tay chép bài thơ “Bốc Toán tử – Vịnh mai” của Lục Du bằng vàng mỏng và gửi cho Mao Trạch Đông, bày tỏ tình cảm cô đơn và ai oán.

Mao Trạch Đông sau đó đã viết bài thơ hồi đáp bà, đại ý rằng: “Dù vách đá trăm trượng băng, vẫn có cành hoa đang cười. Hoa đẹp không tranh được với xuân, chỉ đợi xuân đến báo. Đợi đến lúc hoa dần rơi, nàng xuân trong bụi tùng cười…” Ai có thể ngờ rằng bài thơ này, được giới thiệu bởi sách văn học Trung Quốc, lại thực sự được sáng tạo ra dưới một bối cảnh như vậy.

Hãy quay trở lại với Thượng Quan Vân Châu vào đầu những năm 1960. Vận mệnh của bà như đã biến đổi hoàn toàn, gắn bó với giới quyền quý và tựa hồ như đang đạt đến đỉnh cao thứ hai của cuộc đời. Tuy nhiên, bước ngoặt của định mệnh luôn khiến người ta không thể ngờ tới.

Kết cục bi thương, cùng đường hết lối…

Năm 1966, Thượng Quan Vân Châu được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú và ngay lập tức được tiến hành phẫu thuật. Hai tháng sau, bà lại bị ung thư não, bất tỉnh và phải trải qua một cuộc phẫu thuật não lớn. Tuy nhiên, hoàn cảnh ngoài phòng bệnh còn nguy hiểm hơn, các phim “Vũ đài thư muội” và “Tảo xuân tháng hai” của bà bị phê phán là “đại độc thảo” trong giới văn học nghệ thuật. Vào một buổi chiều, Thượng Quan Vân Châu – người vẫn chưa bình phục, đã bị một nhóm tạo phản phái kéo đến phim trường để phê đấu.

Theo hồi ức của Vi Nhiên, con trai của Thượng Quan Vân Châu: đại gia đình anh đã bị phá hoại vào thời điểm đó, các bức tường của hành lang đầy tên của mẹ anh, bị đánh dấu thập đỏ ở khắp mọi nơi; cánh cửa bị đập thủng nhiều lỗ, và vỡ như tổ ong. Thượng Quan Vân Châu phải chịu nhiều cáo buộc như “minh tinh xã hội cũ”, “tác phong sinh hoạt hư hỏng”, “đóng chính toàn phim bại hoại” và các tội danh khác, và bị buộc phải báo cáo cho “chuồng bò” của xưởng phim mỗi ngày”, “ở đó mà học tập, lao động, viết hối cải, bị phê phán”.

Tạp chí “Điện ảnh đại chúng” ghi lại: “Thượng Quan Vân Châu thường bị phái tạo phản dùng những thanh sắt dày quấn vải đánh đập, và có vô số cuộc diễu phố, phê đấu và vũ nhục thân nhân”. Tháng 9 năm 1966, Xưởng điện ảnh Thượng Hải tổ chức một đại hội phê đấu, trong đó bà bị phái tạo phản cắt ảnh thành hình “máy bay phản lực”, chịu đựng những lời lăng mạ và đánh đập dã man. Những khán khách điên cuồng tỏ vẻ “trung thành với đảng” lao lên sân khấu đấm đá bà cho đến khi bà bất tỉnh.

Đến năm 1968, Cách mạng Văn hóa chuyển từ “Khủng bố đỏ” của Hồng vệ binh sang “Cuồng phong đỏ” mà Mao Trạch Đông đã thổi bùng lên để “làm trong sạch hàng ngũ”. Điều mà Thượng Quan Vân Châu không ngờ tới là mối quan hệ đặc biệt của bà với Mao Trạch Đông đã giúp bà thoát khỏi “vận động phản hữu”, nhưng cuối cùng lại đẩy bà xuống vực sâu.

‘Đã đành là thói hồng nhan; càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều!’…

Theo hồi ức của tác gia đại lục Thiết Lưu, Giang Thanh (vợ Mao) đã từng chặn một bức thư của Thượng Quan Vân Châu gửi cho Mao Trạch Đông trong văn phòng cơ mật, sau đó lật ngược ‘lọ giấm’, đánh ghen Thượng Quan Vân Châu. Qua trào lưu điên cuồng của Cách mạng Văn hóa, Giang Thanh, người đang nắm quyền, bắt đầu điên cuồng báo thù.

Thượng Quan Vân Châu bị đóng khung là “đặc vụ chiến lược từ thời Quốc dân đảng”. Bắt đầu từ tháng 9 năm 1968, “Tổ chuyên trách vụ Thượng Quan Vân Châu” do Giang Thanh điều khiển và “Tổ chuyên trách Thượng Quan Vân Châu” do Lâm Bưu bí mật thành lập, đã liên tiếp bức bách bà viết chi tiết về việc qua lại của bà với Mao Trạch Đông. Tuy nhiên, Thượng Quan Vân Châu chưa bao giờ viết những tài liệu khiến tổ chuyên trách “hài lòng”.

Thượng Quan Vân Châu đã hy vọng rằng Mao Trạch Đông sẽ đến để cứu mình, nhưng Mao Trạch Đông từ chối mở miệng. Chúng ta không biết lý do cụ thể, nhưng chúng ta chỉ có thể đoán, có lẽ Mao Trạch Đông tin rằng những “tân nhân” trẻ đẹp có thể tìm thấy ở khắp mọi nơi, và không đáng phải liều lĩnh vì “người cũ”.

Vào ngày 22 tháng 11, hai vị khách không mời đã đến Xưởng phim Thượng Hải để thẩm vấn Thượng Quan Vân Châu với danh nghĩa “ngoại điều”. Trong một căn phòng nhỏ, những người thẩm vấn vây quanh bà và buộc bà phải viết những tài liệu sẽ “không được tiết lộ ra bên ngoài, nhưng phải thành thật thú nhận bên trong”.

Thượng Quan Vân Châu không trả lời được, đầu tiên họ đấm đá, sau đó dùng đế giày da tát vào má bà. Sau hơn hai tiếng đồng hồ, họ đuổi Thượng Quan Vân Châu đang hấp hối ra khỏi nhà và ra lệnh cho bà phải viết “lý lịch” rõ ràng vào ngày mai, nếu không sẽ phải chịu trách nhiệm về hậu quả.

Vi Nhiên mô tả nỗi kinh hoàng của mẹ mình sau khi bị đánh đập trong bài báo phỏng vấn: “Khi trở về từ ‘chuồng bò’, khuôn mặt của mẹ tôi bị đánh và sưng tấy, khóe miệng chảy máu, mắt bà đờ đẫn, cơ thể co rúm vì run sợ”.

Khi trở về nhà vào đêm hôm đó, Thượng Quan Vân Châu, thân mình đầy vết thương, không thể viết ra các tài liệu mà “tổ chức” muốn. Không thể tiếp tục đối mặt với nỗi tủi nhục và đau khổ vô tận, vào lúc 3 giờ sáng ngày 23/11/1968, đợi khi màn đêm thâm u nhất, bà đã nhảy xuống cửa sổ tầng 4 tự vẫn. Bà tắt thở trên đường đến bệnh viện khi chỉ mới 48 tuổi.

Vi Nhiên cho biết, sau khi mẹ rơi khỏi lầu, thân thể bà đã đập mạnh vào thùng rau lớn ở chợ rau dưới nhà, máu bắn tung tóe trên lá rau. Khi đó, người dân nghe tiếng động liền chạy đến ứng cứu. Sau đó người dân chợ rau đã dùng vòi nước cao su rửa sạch vết máu trên lá rồi tiếp tục bán cho người tiêu dùng.

Vi Nhiên không ngạc nhiên khi nghe về điều đó, anh nói: “Trong thời buổi khan hiếm vật chất ấy, những hành động tàn nhẫn như vậy không quá khó hiểu; hơn nữa, con người thời đó dường như đã quen với những kiểu tử vong bất thường”.

‘Vắt chanh bỏ vỏ’: Nạn nhân của chính mình hay nạn nhân của thời thế?

Những năm huy hoàng nhất của Thượng Quan Vân Châu chính là vào thời kỳ chiến loạn ở Thượng Hải, nhưng sau khi thành lập cái gọi là “Trung Quốc mới”, vận mệnh của bà đã hướng tới suy bại và điêu linh. Thượng Quan Vân Châu đã trải qua ba cuộc hôn nhân và có hai con, một trai một gái, nhưng trong những giây phút cuối đời, không có ai ở bên cạnh. Diêu Diêu, đứa con gái duy nhất luôn theo sát bà, đã chết trong một vụ tai nạn xe hơi 7 năm sau khi bà qua đời.

Trong các cuộc vận động chính trị ngày càng leo thang như chỉnh phong, phản hữu, Cách mạng Văn hóa, Thượng Quan Vân Châu đã hết lần này đến lần khác nhẫn nhục và nhượng bộ, thậm chí vì sự nghiệp điện ảnh của mình, vì theo đuổi cái gọi là “tiến bộ”, bà đã nhẫn tâm bỏ rơi người chồng thứ ba đang phải chịu “quản chế lao động” vì bị người khác hãm hại.

Tuy nhiên, bà không ngờ rằng, những cơn bão của ĐCSTQ là nhắm đến “hủy hoại tất cả” đạo đức truyền thống của con người, chưa nói đến giấc mơ điện ảnh, ngay cả cuộc đời của bà cũng không thoát khỏi kết cục đen tối.


Mộc Lan biên dịch































































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com