<BGSOUND src="Nhac Bai.mp3"> Le Dinh













Phi Ngọc Hùng











































































































Phi Ngọc Hùng





Chữ Việt cổ
Chúng tôi chỉ khảo sát những từ đã từng tồn tại là những từ bình thường, nhưng nay đã biến mất trong từ vựng hiện đại.

Thạp / khạp: đồ đựng bằng đất nung (Đại Nam quốc âm tự vị - Huỳnh Tịnh Paulus Của).

Tiếng Việt không đơn giản – 1
Hỏi: hôm qua đi chùa, một vị sư giảng có câu : "Sắc không không sắc sắc thị không", nghĩa là gì vậy? Phải chăng nghĩa là phàm vật chỉ có sắc tướng đều là vật tạm, phải có một ngày hư nát?

Đáp: Không hiểu!

Hỏi: hai chữ "Sắc Không, Không Sắc" người ta thường lẫn lộn nói rằng "Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc". Vậy 2 câu này là gì?

Đáp: Không thông! (Nguồn ĐatViet.com)

Tó táy
Tó táy : luồn tay tìm tòi (Tự điển tiếng Việt cổ - Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Tiếng Việt không đơn giản - 2
Hỏi :trong truyện Kiều có câu:

"Thiều quan chín chục đã ngoài sáu mươi."

Thiều Quang là gì, và câu đó có nghĩa là gì vậy?

Đáp: Thiều quang là quang cảnh đẹp đẽ của mùa xuân hay ánh mặt trời của mùa xuân. Câu đó có nghĩa mùa xuân có 90 ngày thì hôm đó đã là sáu mươi mấy ngày rồi...

Có một câu khác ngay ở phía trên câu đó:

"Thanh Minh trong tiết tháng hai" đã nói rõ cái thời điểm đó. (Nguồn ĐatViet.com)

Bia cây số
Bất cứ gì khắc trên bia phải thận trọng như bia cây số quy ước chung là viết đơn vị đo lường và số cách nhau một khoảng trống.

Không nên viết 14Km mà viết đúng là 14 Km. (Nguyễn Văn Tuấn)

Viết hoa
Ngay trong khái niệm danh từ riêng như tên của một người, có hai trường phái đối nghịch:

Cách thứ nhất: viết hoa tất cả chữ trong tên người: Nguyễn Văn Tốt hay Lê Thị Mùi.

Cách thứ hai: viết hoa họ và tên, vì hai chữ đệm trong tên “văn“ và “thị“ dùng để xác định giới tính nam hay nữ của người mang tên ấy, không thuộc về “họ“ mà cũng không thuộc về “tên“, nên không cần phải viết hoa: Trần thị Toét hay Lê văn Bướng. (Nguyễn Văn Tuấn)

Đừng tưởng
Ở đời nhân nghĩa làm đầu
Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.
Ai ơi nhớ lấy đừng quên… (Bùi Giáng)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Hữu duyên thiên lý i-meo lại
Vô duyên đối diện cãi nhau hoà
Nói lái với thơ ca, hò vè
Yêu em từ độ…méo trời
Khi nào…méo đất mới rời em ra.

Câu đố dân gian
Hai chân đứng,
Hai chân quỳ,
Cái bụng chì ì;
Cấm nói con cóc? (Con ếch)

Ca dao tục ngữ hiện đại hiện thực
Buồn buồn tự tử…chết chơi
Ai dè...chết thiệt buồn ơi là buồn
Về khúc Tống biệt
Lá đào rơi rắc lối thiên thai,
Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi!
Nửa năm tiên cảnh,
Một bước trần ai,
Ước cũ duyên thừa có thế thôi!
Đá mòn, rêu nhạt,
Nước chảy, huê trôi,
Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ đây xa cách mãi.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ,
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi. (1922)

Tống Biệt là bài Từ khúc theo điệu Hoa phong lạc, rút từ vở chèo Thiên Thai, có thể coi là một bài toàn bích. Vì đây là vĩnh biệt (từ đây xa cách mãi), bài thơ có nhịp chân bước quyến luyến mà chậm rãi, dường như ung dung. Văn khí trong thơ thay đổi luôn, câu ngắn thì như nấc như nghẹn, câu dài thì như tiếng than não nuột của chia tay nhau giữa cảnh trời đất mênh mông...

Ghép chữ Nôm
Tài hơn nữa, ta đem một chữ rất thường dùng ghép với một chữ khác để cấu-tạo thành không biết bao nhiêu chữ kép với những nghĩa đầy lý thú:

Như một chữ “ăn” đem ghép thành:

Ăn bám, ăn bận, ăn bẩn, ăn bòn, ăn bốc, ăn bớt, ăn cắp, ăn có, ăn cỗ, ăn cơm, ăn cưới, ăn cướp, ăn cháo, ăn chay, ăn chạy, ăn chắc, ăn chận, ăn chẹt, ăn chịu, ăn chơi, ăn chùa, ăn chực, ăn dè, ăn đêm, ăn đòn, ăn đút, ăn đứt, ăn gian, ăn giỗ, ăn hại, ăn hàng, ăn hiếp, ăn kiêng, ăn khao, ăn khem, ăn khín, ăn khớp, ăn lãi, ăn lạt, ăn lận, ăn lời, ăn lương, ăn lường, ăn mày, ăn mặc, ăn mặn, ăn mót, ăn mừng, ăn nằm, ăn nói, ăn ngủ, ăn nhậu, ăn nhín, ăn nhịp, ăn nhờ, ăn ở, ăn quịt, ăn rơ, ăn sương, ăn tạp, ăn Tết, ăn tiệc, ăn tiền, ăn thề, ăn thua, ăn trộm, ăn trớt, ăn uống, ăn vạ, ăn vã, ăn vặt, ăn vận, ăn vụng, ăn xài, ăn xén, ăn xin, ăn xổi, ăn ý... (Tiếng Việt hồn Việt – Lê Thương)

Tình dục trong làng văn xóm chữ
Ông Đùng bà Đà
Trong hội làng Quang Lang (Thái Thụy, Thái Bình) có trò múa ông Đùng - bà Đà, một trong nhiều trò diễn thể hiện rõ tính phồn thực. Dân làng làm một hình nộm đàn ông gọi là ông Đùng và một hình nộm người đàn bà gọi là bà Đà với một số hình nộm trẻ con trai gái tượng trưng cho con cái của hai ông bà. Thân hình nộm được đan bằng trúc sa, một loại tre trồng ở bãi biển. Mặt ông Đùng bà Đà được vẽ trên chiếc nia, mặt trẻ con được vẽ trên chiếc giần. Trên tai bà Đùng và tai các cô con gái được đeo hoa mào gà đỏ (dân Quang Lang gọi là hoa ông Đùng). Quần áo ông Đùng bà Đà được may bằng vải buồm cũ. Khi múa, người múa chui vào thân hình nộm đi bằng cà kheo thành chân ông Đùng bà Đà.

Trò múa này thường diễn ra vào xẩm tối ngày 14 tháng 4. Sau khi vái lạy Thánh ở đền và ở chùa xong, chiêng trống nổi lên, tất cả dân làng hô “tinh, tinh, tinh, phập” thì ông Đùng bà Đà úp mặt vào nhau và bắt đầu múa dọc khắp đường làng. Khi chuẩn bị kết thúc thì ông Đùng bà Đà chạy thật nhanh để dân làng đuổi theo “phá Đùng”. Theo trống hiệu phá Đùng, dân làng tranh nhau xô vào giằng xé, ai cũng mong cướp được một đoạn nan trên người ông Đùng bà Đà để lấy phước. Sau khi lấy được họ đem về gác đầu giường hy vọng sẽ khỏe mạnh, những người trong độ tuổi sinh nở thì sớm sinh con theo ý muốn, cắm xuống thuyền thì thuyền ra khơi vào lộng bình an may mắn, cắm ra ruộng muối thì ruộng muối bội thu... Từ những tiếng hô của dân làng “tinh, tinh, tinh, phập” đến động tác quện vào nhau của ông Đùng bà Đà... người dân Quang Lang đã mộc mạc bày tỏ quan niệm phồn thực. (Đặng Hoài Thu)

Chữ nghĩa lỗ mỗ ngu ngơ
Ra đường gặp ả hồng nhan
Thằng cu nghển cổ nóng ran cả người

Văn hoá chửi
Tôi cứ bị ám ảnh mãi: Tại sao khi thấy Trần Dần văng tục “Nắm, nắm cái con cặc”, tôi lại thấy rất… đã. Ðã, không phải vì nó tục mà vì... nó hiên ngang, nó... đầy khí thế. Tại sao?

Ðụng đến bộ phận sinh dục là đụng đến văn hoá, thậm chí, đụng đến một trong những phần sâu thẳm nhất của văn hóa. Cả Sigmund Freud lẫn Jacques Lacan đều xem những khoái cảm sinh lý là nguyên nhân chính dẫn đến việc hình thành nhân cách, đều xây dựng lý thuyết về dục vọng, dục tính và chủ thể tính của họ trên hình ảnh của dương vật, và đều hình dung lịch sử văn minh của nhân loại như là một tiến trình đè nén và thăng hoa của bản năng sinh lý vốn chủ yếu gắn liền với các bộ phận sinh dục.

Người ta đối diện với nó không phải chỉ với tư cách một cá nhân mà còn với tư cách của một tập thể và một lịch sử. Cảm giác thích thú hay khó chịu của người đọc khi đọc bài viết này là một thứ phản ứng có điều kiện, được hình thành dần dần qua thời gian, với vô số những tác động từ bên ngoài, chứ tuyệt đối không phải là một cái gì tự nhiên nhi nhiên. (Nguyễn Hưng Quốc)

Ca dao tục ngữ hiện đại hiện thực
Trời mưa bong bóng phập phồng
Mẹ đi lấy chồng, con ở với…trai

Những vai phụ “láy”, “đệm” trong ngôn ngữ Việt
Việt ngữ cũng có những từ ngữ mà tôi gọi là vai phụ, vì nhiều từ ngữ trong tiếng Việt, nếu đứng riêng một mình, thường không có nghĩa gì cả. Trước tôi, đã có nhiều tác giả bàn luận về loại từ ngữ này và đặt tên cho chúng là "từ láy" cặp kè trong những "từ kép" hoặc "từ đôi". Trước tiên, tôi đề nghị làm giấy khai sinh một danh gọi khác cho "từ láy", vì chữ "láy" gợi trong trí tôi phong cách diễn đạt trong âm nhạc: luyến láy. Mà ngôn ngữ là phương tiện truyền thông bằng tiếng nói hoặc bằng chữ viết, vì vậy tôi được phép còn gọi chúng là "từ đệm", và có dành cho chúng một chương ngắn trong giáo trình Việt ngữ của tôi cho người bản xứ.

Theo tôi, "từ kép" là những cụm từ có đôi, có cặp và mỗi từ, khi đứng riêng có nghĩa hẳn hoi và không nhất thiết đồng âm, cùng vần, nhưng lẽ đương nhiên phải có nghĩa tương quan.

"Từ đệm" cũng như "từ láy" là những "từ đơn" vô nghĩa được đệm vào một từ có nghĩa thành những "từ kép" để thêm thắt ấn tượng cho lời nói hoặc câu văn.

Cho dễ hiểu, tôi xin rút ra vài thí dụ:

- "cáu gắt" là "từ kép" ghép từ "cáu kỉnh" và "gắt gỏng", với "kỉnh" (vô nghĩa) đệm cho "cáu" và "gỏng" (vô nghĩa) đệm cho "gắt".

Tương tự, có:

- "la mắng": "la lối" và "mắng mỏ".

- "buồn chán": "buồn bã" và "chán chường". (Ngô Nguyên Dũng)

Giai thọai làng văn xóm chữ
Câu đối sắc không của cụ Nguyễn Khuyến
Cuối năm 1946, trên đường tản cư, khi qua làng Văn Tràng, tỉnh Nam Định, chúng tôi thấy trên cổng chùa đề bốn chữ:

Sắc không, không sắc

Bốn chữ tuy ý nghĩa uyên áo song là chữ cửa miệng của nhà Phật tử, không có gì đặc biệt, đặc biệt có chăng lá bên giòng lạc khoản đề tên Tam nguyên Yên Đổ.

Chúng tôi lấy làm lạ sao ông Tam nguyên lại cho bốn chữ thông thường quá như thế, sau có một bạn người làng giảng cho mới hiểu nguyên làng này chuyên về nghề mài dao đánh kéo, trong lúc chế tạo người ta thường hay vấn đáp

- Sắc chưả - Chưa sắc!

Bốn chữ "Sắc không, không sắc" dùng chỗ khác thì không có gì đặc sắc nhưng đề vào chùa một làng mài dao, thì lại ngụ một nụ cười hóm hỉnh! Nụ cười này, giá để ý thì cũng đã nhận ra được phần nàọ. Là vì nếu đặt câu hỏi: sao không dùng như lời nói thường "Sắc sắc không không" hoặc "Không không sắc sắc" mà lại đặt chéo là "Sắc không không sắc"?

Nếu hỏi thế, ắt đã phải ngợ một dụng ý gì của tác giả. Ngợ thế thôi, chứ cũng chẳng ai ngợ được rằng ông Tam-nguyên đã dùng chữ sắc theo cái nghĩa là sắc bén.

“Ảo từ”, “ẩn từ” hay “biến từ” trong tiếng Việt?

Từ "dễ", theo thói thường, giữ vai trạng từ trong ngữ pháp, phản nghĩa với "khó". Ấy mà, trong lời ta thán thường nghe: "Đàn bà dễ có mấy tay!", "dễ" giữ nhiệm vụ gì, khó xác định sao cho chính xác. Khác với: "Con bé ấy càng lớn trông càng dễ thương", "dễ" có nghĩa như "đáng". Nhưng tuyệt đối, không ai nói: "Con bé ấy càng lớn trông càng đáng thương", vì ý nghĩa của hai câu nói khác nhau nhiều lắm. Tình tiết trong ngôn ngữ Việt đâu phải chỉ đơn giản bao nhiêu đó. Vì, nếu như "thương" được thay bằng "yêu", ta sẽ có "dễ yêu" cũng như "đáng yêu", thì "dễ" và "đáng" lại đồng nghĩa với nhau, mới chết!

"Dễ" còn được người Việt sử dụng trong lời khen: "Thằng đó không biết ăn nhằm giống gì mà lấy được con vợ đẹp dễ sợ." Hay: "Tao mới làm quen được con nhỏ kia đẹp ác." Điểm ngộ nghĩnh trong hai thí dụ vừa nêu là biến tính của hai từ "sợ" và "ác". Nghĩa tiêu cực tan biến đâu mất, để hỗ trợ tích cực, "nâng cấp" tính đẹp lên tột đỉnh, vượt qua ý niệm giới hạn của "sợ" và "ác"!!! Như thể ở cực điểm, ngôn ngữ cường điệu có khả năng triệt tiêu cả đối tính. Tương tự vậy, người Việt nói: "Con vợ thằng chả nói năng vụng về vậy mà nấu ăn ngon ghê!" thay cho "ngon quá"; hoặc "Ca sĩ X không rành nhạc lý gì hết, vậy mà hát hay kinh khủng!" thay vì "hay tuyệt". Lạ… ghê! (Ngô Nguyên Dũng)




Phi Ngọc Hùng































































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com