<BGSOUND src="Nhac Con Thuong Rau Dang Moc Sau He.mp3"> Le Dinh












Hoàng Hải Thủy












































































































CHIẾC VÉ XE ĐIỆN

Hoàng Hải Thủy





Tôi ra đời trong một thành phố nhỏ ở gần Hà Nội. Thành phố, đúng ra nó chỉ là một tỉnh lỵ, nhưng tôi vẫn khoái gọi Hà Đông là một thành phố. Danh từ “thành phố” nghe ít quê hơn là tỉnh lỵ. Hà Đông, thành phố thời thơ ấu của tôi là thành phố duy nhất ở Việt Nam, và ở cả Đông Dương nữa, có một đường xe điện dài, dài tới 12 cây số, đường xe điện dài nhất Việt Nam đó nối liền Hà Đông với Hà Nội.

Sàigòn trước năm 1954 cũng có đường xe điện. Đường xe điện của Sàigòn chạy trên đường Trần Hưng Đạo nối Sàigòn và Chợ Lớn. Bến xe điện Sàigòn thời ấy ở nhà ga trước bồn binh chợ Bến Thành, hiện giờ là nhà ga xe buýt ở đầu đường Hàm Nghi. Từ đó, xe điện Sàigòn một mặt chạy về Đakao, vào Bà Chiểu và lên tận Hốc Môn. Vào khoảng trước năm 1954, trong một kế hoạch chỉnh trang thành phố Sàigòn, người ta cho việc dân chúng lưu thông bằng xe điện là bất tiện nên người ta dẹp bỏ xe điện ở Sàigòn. Trên mặt đường Trần Hưng Đạo bây giờ, bạn còn thấy vết tích của đường xe điện bị cán dẹp xuống đó. Theo tôi, việc hủy bỏ xe điện ở Sàigòn là một việc có hại cho những người có tâm hồn nghệ sĩ ở Sàigòn. Ngày xưa, có những buổi chiều mưa, tôi đã nhiều lần cùng với người yêu bé nhỏ đưa nhau lên ngồi trên xe điện đi chơi một vòng, đi cho tới hết đường lại trở về điểm chúng tôi lên xe. Những cuộc đi chơi bằng xe điện như vậy thật thơ mộng vào những chiều mưa, sau khi đã chán ngồi trong những rạp hát bóng kín mít hoặc những cuộc đi xem thú trong Sở Thú. Thành phố và người, vật, nhìn qua cửa sổ xe điện bên người yêu bé nhỏ, có những mầu sắc mới, những cảnh lạ. Tôi nghe nói những thành phố lớn bên Mỹ như San Francisco, Chicago…vẫn còn giữ nguyên những đường xe điện treo cồng kềnh và xưa cũ của họ. Với trình độ tiến bộ về cơ khí nhất thế giới của họ hiện nay, người Mỹ thừa tư cách để bỏ những đường xe điện treo cổ lỗ sĩ và không chuyên chở được nhiều người ấy, nhưng họ vẫn không bỏ, họ giữ cho đẹp thành phố, cho thành phố văn minh của họ có những nét cổ kính. Tôi tán thành việc đó. Nếu năm xưa, tôi là người có quyền quyết định trong việc đặt kế hoạch chỉnh trang thành phố Sàigòn, chắc chắn tôi đã phản đối tới cùng việc hủy bỏ đường xe điện.

Trở lại với Hà Đông, thành phố thời thơ ấu của tôi. Cho tới hôm nay, khi tôi ngồi trong một căn phòng nhỏ nhìn ra một vườn cây và nhìn ra con đường Hồ Biểu Chánh nhỏ hẹp, mùa mưa đường lầy lội suốt từ đầu mùa tới cuối mùa- (Nhà văn Hồ Biểu Chánh có một căn nhà ở đường này, hồi còn sống nhà văn đã ở đây nên sau khi ông mất, người ta lấy tên ông đặt cho con đường này, một con đường nhỏ ở Sàigòn)- viết những dòng này thì đường xe điện Hà Đông – Hà Nội vẫn còn hoạt động. Tôi thả hồn mơ ước tới một ngày nào không xa, tôi trở lại ngồi một mình trên con tầu điện chạy trên con đường nên thơ đó, để hồi tưởng dĩ vãng, nhớ lại những chuyến đi trên con tàu đó năm xưa, những lần đi theo cha mẹ, những buổi sáng tinh sương, những buổi chiều vàng đi ra Hà Nội học và trở về.

Trong những năm gần cuối của Đệ Nhị Thế Chiến, Hà Nội bị oanh tạc, những trường tư Thăng Long, Văn Lang dọn vào Hà Đông, đường xe điện Hà Nội – Hà Đông trở thành náo nhiệt vì đám khách học trò. Những anh học trò thanh niên quấy phá bận quần tây, đi giầy tây nhưng bận áo dài ta, đi đầy thành phố. Thuở ấy ở xe điện có một anh Tây controleur, người Corse to béo, bụng phệ, rất “hắc búa” với nhân viên bán vé Việt Nam và với đám “nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò.” Đa số học sinh đi tầu điện đều không chịu mua vé. Không phải họ không có tiền mua vé mà là vì họ không thích mua vé. Đi tầu không vé họ mới thích. Những kiểm soát viên người Việt thường dễ dãi với học sinh nhưng anh Tây Coóc thì không. Anh “thực thi pháp luật” xe điện đến nơi đến chốn: đi xe điện là phải mua vé, trốn vé là phải phạt, vé hạng bét không được léng phéng lên ghế hạng nhất v.v.. Một vài anh học trò bị anh Tây Coóc bắt và bợp tai, đá đít theo đúng thái độ của Tây thực dân. Học sinh liền tổ chức một trận đòn hội chợ để trả thù. Anh Tây Coóc bị một trận đòn nhừ tử và bị đạp xuống bỏ giữa cánh đồng. Việc học trò đánh Tây xe điện làm dư luận, nhất là trong giới học trò con nít tôi lúc đó, sôi nổi, thích thú.

Sau 1945, chiến tranh chấm dứt, tôi còn đi học gần trọn một niên học nữa mới tới ngày xẩy ra cuộc chiến tranh kéo dài 8 năm trên toàn diện đất nước chúng ta. Năm đó tôi 15 tuổi ngày ngày xách cặp cùng với các bạn lên xe điện ra Hà Nội học, buổi chiều lại theo tàu điện trở về Hà Đông. Trong khoản tiền mẹ cho mỗi ngày để đi học, ăn quà sáng, có thêm khoản tiền vé xe điện đi về, trước khi tôi lên tận Thụy Liên, nơi có văn phòng chính của Sở Xe Điện để nộp hình và tiền, mua một tấm carte đi xe điện hàng tháng. Có tấm carte đó, tôi có quyền đi xe điện tha hồ mỗi ngày năm mười chuyến cũng được. Nhưng trước ngày đi lên Thụy Liên đóng tiền mua carte, có một chuyện xẩy ra trên đường tầu điện Hà Đông – Hà Nội làm cho tôi đến nhiều năm sau, vẫn còn hối hận mỗi khi nhớ tới.

Như tôi đã kể, bọn học trò chúng tôi đi học, cha mẹ cho tiền mua vé, nhưng chúng tôi cứ khóai đi tầu không vé. Khi bị xét thì chuyền từ đầu toa đến cuối toa, nhẩy từ toa trên xuống đường khi tầu đang chạy để nhẩy lên toa dưới. Tên nào nhẩy tầu giỏi, không bao giờ phải mua vé được coi là can đảm, linh lợi, tháo vát, được sự mến phục của đồng bọn. Tên nào chăm chỉ bỏ tiền ra mua vé bị coi là cù lần, bị thịt, bị chê và khinh . Tôi không dám nhẩy tầu liều lĩnh khi tầu đang chạy nhanh như các bạn, song tôi cũng thích đi tầu không phải lấy vé. Một thủ đoạn rất thường mà bọn học trò chúng tôi áp dụng để qua mặt mấy ông kiểm soát là gài một cái vé xe cũ trên vành mũ, hoặc ở tay cầm của cặp sách, làm như mình đã mua vé rồi. Kiểm soát viên nhiều khi trông thấy cái vé vê tròn gài ở vành mũ, ở tay cặp sách của chúng tôi, bèn bỏ qua không hỏi.

Cho tới một buổi chiều, tôi còn nhớ đó là một buổi chiều mùa thu đẹp, trời cao và xanh, qua Ngã Tư Sở và Thái Hà Ấp, nơi có đền người Tầu thờ Sầm Nghi Đống, những rặng cây thấp hai bên đường tầu đã giăng những sợi dây tơ hồng vàng óng, tôi cũng gài một cái vé xe điện cũ vào tay cặp sách và tôi bị kiểm soát viên hỏi vé.

Cái vé cũ gài ở cặp chỉ có tính cách trình diễn mà thôi. Khi bị hỏi vé nếu tôi thông minh và nhanh trí khôn hơn một chút, tôi phải làm lơ cái vé gài sẵn đó đi để móc tiền ra mua vé ngay. Trong lúc bối rối tôi quên mất là trên những tấm vé đều có số, mỗi chuyến tầu người bán từ số vé nào đều phải ghi vào sổ để trình với kiểm soát viên. Tôi đưa vé hôm qua, hoặc là vé buổi sáng, họ biết ngay là vé cũ đã dùng rồi nhưng chưa xé. Nếu hôm đó khi bị hỏi, tôi móc đồng bạc ra mua vé thì không có chuyện gì xảy ra cả. Đằng này tôi lại rút cái vé cũ gài ở quai cặp đưa cho người kiểm soát.

– Vé cũ. Cậu mới mua vé này hay là cậu đi vé cũ? – Ông kiểm soát coi cái vé tôi đưa rồi hỏi tôi.

Đến lúc đó tôi vẫn còn có thể cứu vãn tình thế bằng cách cười ruồi, cười gượng, đỏ mặt rồi ấp úng thú nhận là đi vé cũ và móc tiền mua ngay vé mới, hoặc thú nhận là tiêu hết tiền…Tất cả những kiểm soát viên Việt Nam đều dễ dãi với bọn học trò đi xe điện. Họ cũng có con cháu đi học và bọn con cháu họ cũng nghịch ngợm, cũng thích đi tầu không vé như tôi. Nhưng tôi không làm thế, tôi lại chỉ người bán vé đứng sau lưng ông kiểm soát và nói chính anh ta vừa bán cho tôi cái vé đó.

Tôi không biết rằng lời nói dối của tôi có thể rất tai hại cho anh bán vé. Tôi có thể gian lận bằng cách đi vé cũ không sao, nhưng nếu người bán vé bán vé cũ, vé đã dùng rồi cho tôi, anh có thể bị mất việc. Đã từng có những người bán vé tầu điện kiếm thêm bằng cách bán vé cũ cho khách và đã bị đuổi. Tôi còn nhớ rõ người bán vé – một thanh niên trạc hai mươi nhăm tuổi, người gầy gò có vẻ đói rách, bận sơ mi cụt tay sờn cổ – mặt xanh dờn khi bị tôi chỉ mặt. Anh ấp úng và anh run rẩy:

– Cậu hại tôi… Tôi làm thế… Cậu giết tôi.

Trong cơn bối rối , sợ hãi, tôi không còn biết phải nói gì, làm gì nữa. Thú nhận mình đi vé cũ e muộn quá. Cứ khăng khăng nói rằng mình mới mua vé ư?…Tôi không quen nói dối. Chắc lúc đó mặt tôi cũng đỏ, cũng xanh không kém mặt người bán vé bị tai nạn nghề nghiệp. Ông kiểm soát cũng chưa biết xử trí ra sao. Bỗng có một người đàn ông lạ, một người tôi không hề quen biết, đi cùng trên toa xe, bước tới sau lưng tôi, đưa ra một đồng bạc và nói bằng một giọng hoà nhã:

– Em tôi nó nghịch , nó đi vé cũ đấy. Không phải ông này bán vé cho nó đâu. Các ông bán cho cái vé khác.

Cuộc bê bối của tôi đến đây là ngừng. Ông kiểm soát không muốn kiếm chuyện, bảo anh bán vé xé cho tôi tấm vé khác. Anh bán vé cũng không mong gì hơn là không bị buộc tội bán vé cũ. Chắc anh cũng có một vài lần kiếm thêm vài đồng mua qua cho con bằng cách đó nên anh sợ, nếu tôi cứ nhất định nói là chính anh bán cho tôi cái vé cũ đó thì đời anh rắc rối nặng.

Tôi xấu hổ và ân hận ôm cặp ngồi đưa mặt ra suốt từ đó cho tới lúc tầu vào tới đầu cầu Hà Đông. Tôi nhìn trộm người đã mang tôi ra khỏi cơn bê bối đó. Anh là một người đàn ông trạc ba mươi tuổi, ăn bận thường, mặt dài và da hơi xanh. Tôi không đủ kinh nghiệm để nhận xét anh làm nghề gì. Tôi chỉ thấy anh thường thường như tất cả mọi người và tôi không hề quen biết anh.

Khi xe điện ngừng ở đầu cầu, tất cả mọi người đều xuống xe. Anh cũng đi qua cầu sông Nhuệ để vào tỉnh, tôi mới lấy lại được đủ can đảm để cám ơn anh và đề nghị trả anh đồng bạc anh bỏ ra mua vé cho tôi. Để chứng tỏ là tôi không thiếu tiền, tôi mở cặp cho anh thấy tôi có tới bẩy, tám đồng trong đó.

Chúng tôi dừng lại dưới chân cầu. Trước mặt tôi là người đàn ông lạ và dòng sông. Bên phải tôi là nhà Cercle của công chức Toà Sứ. Sau lưng tôi là nhà riêng của Công-sứ Pháp, một toà nhà lầu nằm giữa một vườn cây rộng và đẹp, toà nhà đẹp nhất tỉnh. Tôi nhớ rõ đôi mắt anh nhìn mấy tờ giấy bạc nằm trong cặp sách của tôi, nhìn mặt tôi. Tôi có cảm giác như lúc đó anh rất buồn vì một thiếu niên có vẻ “con nhà” như tôi có thể nói dối một cách trắng trợn như anh đã thấy. Anh lắc đầu, không cầm đồng bạc tôi trả và anh đặt tay lên vài tôi. Tôi còn nhớ rõ anh chỉ nói có mấy tiếng:

– Em không nên dối trá. Em có thể làm cho người bán vé mất việc. Khổ cho vợ con người ta…

Rồi chúng tôi lại đi. Qua một đoạn đường nữa, anh rẽ vào con đường đi về khu phố chợ, tôi thẳng đường về nhà, lòng bồi hồi, xúc động và ân hận như chưa bao giờ tôi ân hận đến thế.

Cho tới bây giờ , ba mươi nămg trời đã trôi qua, khi nhớ lại tôi vẫn còn thấy rõ khuôn mặt gầy gò, hốc hác của anh bán vé xe điện khi bị tôi chỉ mặt, làn da xanh xao và cái cổ ngẵng có cục xương nhấp nhổm lên xuống của anh ấp úng minh oan.

Tôi vẫn còn nhớ rõ lời khuyên của người anh tôi không quen, không biết tên, người tôi chỉ gặp có mỗi một lần ở trong đời “Em không nên dối trá….”. (Trích TUỔI NGỌC -tập 1- số 9 -1969)


Hoàng Hải Thủy



























































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com