DƯƠNG VIẾT ĐIỀN

Muốn liên lạc với tác giả, xin bấm vào hình trên.













































































































TÌNH HOÀI HƯƠNG

TRONG TÁC PHẨM
“BÀI CA VỌNG CỔ”



DƯƠNG VIẾT ĐIỂN





Nói về nhà văn Tiểu Tử (hình trên), dân chúng ở Tây Ninh không ai mà không biết. Sau này khi tác phẩm “Những Mảnh Vụn” được ra mắt tại Hoa Kỳ, không những chỉ dân Tây Ninh mà dân Việt Nam ở hải ngoại đều biết, nhất là giới văn học nghệ thuật.

Trước khi có vài nhận xét về tác phẩm “Bài Ca Vọng Cổ”, tưởng cũng nên đề cập đôi nét về tiểu sử của nhà văn Tiểu Tử.

“Tác giả tên là Võ Hoài Nam, trước năm 75 ông là Giám đốc kho xăng Shell Nhà Bè. Sơ lược về nhà văn Võ Hoài Nam thì ông sinh quán tại quận Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, ông là con của nhà cách mạng và cũng là nhà giáo Võ Thành Cứ của tỉnh Tây Ninh. Ông Võ Hoài Nam du học tại Pháp, tốt nghiệp ngành kỹ sư, năm 1955 ông về nước đầu tiên nhận nhiệm sở dạy học tại trường trung học Petrus Ký. Rồi vào làm việc cho công ty Shell từ 1956. Sau ngày 30/04/75 ông bị kẹt lại tại quê nhà, ông đã chứng kiến những thảm cảnh đất nước suy đồi, những giá trị xã hội đảo lộn, nền luân lý tan hoang, khi được sang Pháp định cư với vợ con, ông dành khoảng đời còn lại để ghi nhận đoạn đường mà ông đã đi qua dưới bút hiệu khiêm cung là Tiểu Tử”.

Sau khi ra mắt tác phẩm “Những Mảnh vụn”, nhờ ông Yên Sĩ Phi Lý Thuần (Inspiration) thúc dục, thừa thắng xông lên, nhà văn Tiểu Tử lại tiếp tục cho ra đời đứa con tinh thần thứ hai là “Bài Ca Vọng Cổ”. Thật tuyệt vời!

Với cái tuổi gần đất xa trời, việc hoàn thành một tác phẩm văn học không phải là chuyện dễ. Vậy mà ông đã hoàn thành, ông đã viết xong một tác phẩm nữa: Bài Ca Vọng Cổ.

Bài Ca Vọng Cổ là tên của một truyện ngắn tác giả lấy làm tựa đề cho tác phẩm.

Đọc tác phẩm Bài Ca Vọng Cổ, ta thấy tình hoài hương bàng bạc khắp nơi trong nhiều truyện ngắn. Vì nhớ nhà, nhớ quê cha đất tổ, nhớ giếng nước bờ ao, nhớ lũy tre xanh bao bọc quanh làng, lòng tác giả đã quặn thắt để rồi buồn vời vợi mấy chục năm trời vì nghìn trùng xa cách, quê nhà vẫn biền biệt lâu rồi.

Vì tình hoài hương dễ làm xúc động lòng người nên bất kỳ ai xa quê hương cũng nhớ nhà, nhớ quê da diết. Không nơi nào bằng quê nhà, không nơi nào bằng nơi chôn nhau cắt rún. Cho dù đang ở trên tháp ngà cao ngất trời xanh giữa chốn phồn hoa đô hội nơi đất khách quê người, cho dù đang được hưởng thụ nền văn minh vật chất tối tân nhất của nhân loại giữa thủ đô ánh sáng Paris hay tại thành phố Newyork, nhưng tất cả mọi người trên trái đất này, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, không phân biệt nam nữ hay trẻ già, mỗi lần nhắc đến quê hương ai ai cũng cảm thấy nhớ nhà da diết, ai ai cũng cảm thấy xúc động trong lòng. Chính điểm này khiến thi sĩ Anh quốc Lord Byron khi quá nhớ nhà đã không ngần ngại hạ bút viết:

Home, home, home, sweet home!
How humble the home may be!
There is no place like home! (Ta về ta tắm ao ta
Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn)

Tôi chợt nhớ ra nhà thơ Viêt Hải có phóng tác bài thơ “Homesick” của thi sĩ Hoa Kỳ Ella Goodwin qua đề tựa “Nhớ Nhà”, bài thơ mang nhiều xúc cảm về tình tự quê hương như sau:

“Đêm nay sao bỗng nhớ nhà,
Nghe hồn tư lự thiết tha nữa kìa
Nhìn trăng ánh tỏa ngoài kia
Bên thềm cửa bếp lòng dìa bâng khuâng...
Ôi sao nhớ quá, lâng lâng
Ngập hồn nhung nhớ ngàn lần tình quê
Nhịp tim hơi thở tìm về
Quê xưa cảnh cũ tràn trề tâm can
Lủy tre khóm trúc đầu làng
Cho ta tìm lại giang san gọi mời
Bình minh tỏa sáng trên trời
Lệ tràn nhung nhớ một đời: Quê Hương.” (“Nhớ Nhà”, Việt Hải)

Bất cứ dân tộc nào khi xa quê cũ họ sẽ ngậm ngùi, nỗi nhớ quê hương gặm nhấm tâm hồn hay nỗi lòng viễn xứ khiến con người phải trả bằng nước mắt nhớ thương:

“I'm homesick to - night, just homesick,
Oh! how I long once more
Just to sit as of old in the twilight
On the step of the old kitchen door...
I'm homesick to - night, Oh how homesick,
Never my tongue may tell,
Though my heart may break with longing
For the scenes that I love so well;
But the dear old home in the valley
Will be mine, Oh never again:
No more will its sunshine cheer me,
And wishes and tears are in vain.” (“Homesick”, Ella Goodwin)

Và cũng vì nhớ nhà đến xúc động con tim nên nhà văn Tiểu Tử đã cho ra đời tác phẩm Bài Ca Vọng Cổ để nói lên nỗi lòng của mình đối với quê mẹ Việt Nam, cũng giống như thi sĩ Lord Byron đã bày tỏ nỗi lòng đối với quê hương của ông ta vậy.

Ngay trong truyện ngắn “Bài Ca Vọng Cổ”, tình hoài hương như đã làm sống dậy, thức tỉnh hai người thuộc hai thế hệ khác nhau: một thuộc thế hệ bậc cha, một thuộc thế hệ bậc con. Cả hai người khi nghe “Bài Ca Vọng Cổ” đã xúc động con tim khiến một người phải đi tìm cho ra người đang ca bài Vọng Cổ, và một người vì quằn quại nhớ nhà, nhớ mẹ nên đã thường xuyên ca bài Vọng Cổ để cho khuây khoả nỗi lòng. Đặc biệt là sự kiện này xảy ra giữa rừng núi Phi châu mới độc đáo!

Đúng là “Tư tưởng lớn gặp nhau”. Tác giả đã quyết chí đi tìm người đang ca bài ca Vọng Cổ và cuối cùng họ đã gặp nhau rồi ôm nhau vào lòng mừng mừng tủi tủi, để rồi thằng “Jean le Vietnamien” đã buột miệng nói theo sự xúc động của con tim:

- Trời ơi!... Con mừng quá! Mừng quá! Trời ơi!... Bác biết không? Bao nhiêu năm nay con thèm gặp người Việt để nói chuyện cho đã. Bây giờ gặp bác, thiệt… con “mừng hết lớn” bác à! (Trong “Bài ca vọng cổ”, trang 12)



Hay là đoạn văn sau đây cho ta thấy nhân vật “Jean le Vietnamien” đã nhớ nhà, nhớ quê hương, thèm được gặp một người Việt Nam đến quằn quại như thế nào:

“Bỗng hắn trợn mắt có vẻ vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ, rồi bật ra bằng tiếng Việt, giọng đặc sệt miền Nam, chẳng có một chút lơ lớ:

- Trời ơi! Bác là người Việt Nam hả?

Rồi hắn vỗ ngực:

- Con cũng là người Việt Nam nè! (Trong”Bài ca vọng cổ”, trang 11)

Bởi vậy khi ở quê người đất khách, chỉ cần một biểu tượng nho nhỏ nào đó có liên quan đến nền văn hóa dân tộc xuất hiện, cũng có thể làm cho tình hoài hương vùng dậy trong lòng người xa xứ bất chấp cả thời gian lẫn không gian. Vì vậy mà Bài Ca Vọng Cổ đã làm cho tác giả cũng như thằng “Jean le Vietnamien” đã nhớ nhà đến nỗi con tim của họ thổn thức triền miên.

Bởi vì “Vọng Cổ là cái chất của miền Nam mà bác. Nó không có lai Âu lai Á gì hết. Nó có cái hồn Việt Nam cũng như cá kho tộ, tô canh chua. Bác thấy không? Bởi vậy không có gì làm con nhớ Việt Nam bằng bài ca vọng cổ hết”. (Trong “Bài ca vọng cổ”, trang 16)

Qua mấy câu văn thật mộc mạc, giản dị sau đây, ta thấy tác giả đã gói ghém tình hoài hương, nỗi nhớ nhà của mình bằng đoạn văn thật chân tình sau đây:

“Tính ra, tôi bỏ xứ ra đi đã hai mươi bốn năm. Một phần tư thế kỷ! Trôi nổi đó đây với nhiều âu lo dằn vặt, thêm tuổi đời cứ chồng chất mãi lên… nên ký ức bị xói mòn theo năm tháng. Đến nỗi chuyện gì xảy ra hôm tuần rồi, hôm tháng trước… có khi không nhớ! Vậy mà hình ảnh của quê hương còn nằm nguyên đâu đó ở trong lòng, với những kỷ niệm vụn vặt của năm sáu chục năm về trước! Chỉ cần một chất xúc tác là nó bật lên rõ rệt, không thiếu một chi tiết, làm như mình đang sống trong đó mới hôm qua hôm kia. Tình yêu quê hương sao mà kỳ diệu như vậy được?” (Trong “Bài ca vọng cổ”, trang22)





Xin mời nghe "Bài Ca Vọng Cổ" của nhà văn Tiểu Tử



Không phải chỉ riêng trong truyện ngắn “Bài Ca Vọng Cổ”, mà bàng bạc trong nhiều truyện ngắn khác, ta thấy tác giả cũng luôn luôn đề cập đến tình hoài hương như canh cánh mãi bên lòng:

“Khi hắn buông tôi ra, tôi thấy hai má hắn ướt nước mắt. Tôi vội quay đi, lầm lũi bước nhanh về nhà ga mà nghĩ thương thằng “Jean le Vietnamien”, hồi nãy nó ôm tôi, có lẽ nó đã tưởng tượng như là nó đang ôm lại được một góc trời quê mẹ”. (Trong “Bài ca vọng cổ”)

Hay là:

“…cái quê hương đã mấy chục năm xa cách, cái quê hương mà ở đó ông không còn ai để nhớ, nhưng ông còn quá nhiều thứ để nhớ. Những thứ cũng mang dấu ấn “Made in Vietnam”, từ con trâu cái cày, từ mảnh ruộng vườn rau, từ hàng cau rặng dừa, từ con đường đất đỏ đến con rạch nhỏ uốn khúc quanh quanh… Chao ơi! Bỗng nhiên sao mà nhớ thắt thẻo đến muốn trào nước mắt…”. (Trong“Made in Vietnam”)

Rồi đoạn văn sau đây cũng cho ta thấy tình hoài hương vẫn làm cho tác giả xao xuyến mãi trong lòng:

“Từ bao lâu nay, người tỵ nạn chỉ nhờ tôi dạy Anh văn và Pháp văn. Đây là lần đầu tiên trong đời lưu vong tôi được người nhờ dạy quốc ngữ. Lại là một cô gái nhỏ, và cô muốn học chỉ để viết thơ về cho cha cô ở Việt Nam! Giản dị như vậy. Vậy mà sao tôi có cảm tưởng như tôi vừa được nhắc tới quê hương, nhắc bằng chữ i chữ tờ… Và được thấy lại một nét quê hương qua hình ảnh người con muốn viết thơ về cho cha vì vẫn không muốn cắt lìa cuống rún!”. (Trong“Con Mén”)

Vì nhớ quê hương, vì thương quê mẹ, cho nên khi thấy người nào có những cử chỉ hay ngôn ngữ hoặc những biểu tượng đi ngược lại nền văn hoá dân tộc, tác giả cảm thấy trong lòng buồn vời vợi. Chẳng hạn như tác giả có một người bạn thân từ thưở nhỏ còn ở tại quê nhà, nhưng sau thời gian sống lưu vong ở đất khách quê người lại viết thư hồi âm cho tác giả bằng tiếng Pháp làm tác giả tỏ ra phật lòng và khinh người bạn thân này ra mặt.

Đọc đoạn văn sau đây ta thấy rõ được sự bất mãn của tác giả đối với người bạn cũ ngày trước:

“Mười ngày sau, tôi nhận được lá thư hồi âm của nó. Thư đánh máy và bằng tiếng Pháp.

Tôi cảm thấy thật hụt hẫng. Tôi đâu có dè nó “mất gốc” đến độ như vậy! Tôi chỉ còn nhìn ra được thằng bạn tôi ở cái chữ ký, còn lại là một thằng Tây nào đó chớ không phải một thằngViệt Nam! Tôi chua xót, nhưng cũng ráng đọc cho hết bức thư trước khi thả nó rơi vào sọt rác. Tình bạn mà tôi đã dành cho nó từ thời tuổi nhỏ chắc cũng đã rơi theo vào sọt rác, nghe nhẹ như hơi thở dài…” (Trong“Chuyện chẳng có gì hết”, trang 36)

Vì vậy khi thấy người nào phát huy hay cổ xuý những biểu tượng đi ngược lại với tập quán của dân tộc tác giả thường hay khuyên bảo hãy ngưng lại, không nên tiếp tục làm nữa. Trong truyện “Made in Vietnam”, đoạn văn sau đây cho ta thấy được điều ấy qua nhân vật “Bác sĩ châm cứu”: “Bác sĩ nói:

- Mình là người Việt Nam, ăn mặc theo “punk” không hạp với con người với bản chất của mình chút nào hết. Cô đâu có xấu mà cô làm cho xấu đi, uổng lắm! Mình phải xứng đáng là Made in Vietnam, chớ cô (Trong “Made in Vietnam”, trang 150)

Nhưng rồi lắm lúc tác giả tự hỏi không biết đồng hương lưu vong có ai nhớ lại rằng mình chính là người Việt Nam không, hay đã lai căng mất gốc. Chính điểm này mà tác giả đã để cho nhân vật “Bác sĩ Lê” bày tỏ tâm trạng của tác giả trong đoạn văn sau đây:

“Bỗng ông quay sang hỏi tôi mà nghe như ổng tự hỏi ổng:

- Không biết ở xứ Mỹ nầy, đồng hương lưu vong, có ai lâu lâu nhớ lại rằng mình “Made in Vietnam”, không?

- Có chớ anh! Nhưng cũng có người chẳng những không nhớ mà còn tự đóng cho mình con dấu “Made in USA” nữa, anh à. Thứ đó bây giờ thấy cũng nhiều!

Tôi đưa tách lên môi uống ngụm cà phê cuối cùng, bỗng nghe cà phê sao mà thật đắng…” (Trong “Made in Vietnam”, trang152)

Nói chung, trong tác phẩm “Bài Ca Vọng Cổ”, tác giả như cố ý chỉ nhắm vào ý chính là tình hoài hương. Tác giả như muốn bày tỏ nỗi lòng khắc khoải sầu thương, nỗi lòng quằn quại vì nhớ nhung chất ngất của mình đối với quê nhà yêu dấu khi đã xa quê nhà biền biệt mấy mươi năm trời. Thế nên những hình ảnh mang những biểu tượng của quê hương cứ mãi mãi hiện về trong trí của tác giả như đồng lúa chín, luỹ tre xanh, con sông nhỏ, buổi chợ chiều, con trâu cày, cây đa đầu làng, khói lam chiều sau mái nhà tranh vv…Vì thế khi chúng ta đang ở tại quê người đất khách, bất chợt nghe ai hát bản nhạc “Tình hoài hương” của nhạc sĩ Phạm Duy, lòng ta không thể nào không nhớ quê nhà được. Nhân đây, chúng ta thử nghe lại bài Tình hoài hương để cùng tác giả Tiểu Tử thả hồn về quê nhà yêu dấu mà mấy mươi năm rồi đã quằn quại vì nhung nhớ triền miên:

Quê hương tôi, có con sông dài xinh xắn
Nước tuôn trên đồng vuông vắn
Lúa thơm cho đủ hai mùa
Dân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê.
Quê hương tôi có con sông đào ngây ngất
Lúc tan chợ chiều xa tắp
Bóng nâu trên đường bước dồn
Lửa bếp nồng, vòm tre non, làn khói ấm hương thôn!
Ai về, về có nhớ, nhớ cô mình chăng?
Tôi về, về tôi nhớ hàm răng cô mình cười ơ ơ ớ!
Ai về mua lấy miệng cười
Để riêng tôi mua lại mảnh đời, thơ ngây thơ ơ ớ ơ ơ ờ!

Quê hương ơi! Bóng đa ôm đàn em bé
Nắng trưa im lìm trong lá
Những con trâu lành trên đồi
Nằm mộng gì? Chờ nghe tôi thổi khúc sáo chơi vơi.
Quê hương ơi! Tóc sương mẹ già yêu dấu
Tiếng ru nỗi niềm thơ ấu
Cánh tay êm tựa mái đầu
Ôi bóng hình từ bao lâu còn ghi mãi sắc mầu!

Tình hoài hương!
Khói lam vương tâm hồn chìm xuống
Chiều soay hương!
Sống vui trong mối tình muôn đường.
Tình ngàn phương!
Biết yêu nhau như lòng đại dương
Người phiêu lãng!
Nước mắt có về miền quê lai láng
Xa quê hương! Yêu quê hương... quê hương ấy!

Riêng lời văn trong tác phẩm “Bài Ca Vọng Cổ”, ta thấy tác giả viết những câu văn thật dí dỏm, hài hước, thật bình dị, tự nhiên, không cầu kỳ mà thật sâu sắc và đầy ý nghĩa.

Lời văn của tác giả gần giống như lối hành văn của nhà văn Nam bộ Hồ Biểu Chánh trong tác phẩm “Ngọn Cỏ Gió Đùa” vậy.

Sau đây, ta thử nêu lên một vài đoạn để thấy rõ tính cách bình dị và tự nhiên trong lối hành văn của tác giả:

“Hắn cầm ống quẹt vừa lật qua lật lại vừa nhìn một cách trìu mến:

- Của ông ngoại con cho đó! Ông cho hồi ổng còn sống lận”. (Trong “Bài ca vọng cổ”, trang 13)

Hay là câu:

“Hôm nay trời tốt đó chứ, nhưng sao chẳng thấy ai đi” (Trong “Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn”, trang 20)

Hoặc là câu sau đây:



“Lần đầu tiên viết chuyện tình, chọn cái gì dễ dễ để viết cho nó… trơn”. (Trong “Viết một chuyện tình”, trang 231)

Hay là câu:

“Một bà già bán xôi thấy bọc ni lông dây thun con Mén nhét tòn ten ở lưng quần, bèn hỏi: “Dây thun đâu nhiều vậy cháu?”. Nó trả lời là dây thun của nó. Bà ta cười hiền hòa: “Vậy hà. Chớ cháu có bán dây thun hôn, bà mua cho. Để cột mấy bọc xôi ý mà”. (Trong “Con Mén”, trang199)

Cũng cùng một lối hành văn thật tự nhiên qua câu sau đâyy:

“Khỏi lo! Tau ăn rồi. Để tau têm miếng trầu rồi tau với mấy đứa nhỏ soạn đồ ra coi có hư bể gì không cái đã”.

Hoặc là câu:

“Thiệt… không biết cái xứ gì mà ăn rồi cứ đi ra đi vô, hổng làm gì ráo”.

Tóm lại, qua tác phẩm “Bài Ca Vọng Cổ”, ta thấy nhà văn Tiểu Tử Võ Thành Nam muốn gởi gắm tâm sự tình hoài hương của mình vào trong tác phẩm và khuyên một số người đừng bao giờ quên quê mẹ Việt Nam dấu yêu vì đang thụ hưởng được nền văn minh vật chất ở đất khách quê người. (California, một buổi chiều nhạt nắng).


Dương Viết Điền





























































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com