<BGSOUND src="Nhac Thuong Con Chot Sang Song.mp3"> Le Dinh











DƯƠNG VIẾT ĐIỀN

Muốn liên lạc với tác giả, xin bấm vào hình trên.















































































































DƯƠNG VIẾT ĐIỂN





Thưở còn cắp sách đến trường, tôi có đọc ba tác phẩm của nhà văn Nam bộ Hồ Biểu Chánh. Đó là tác phẩm Ngọn Cỏ Gió Đùa, Cay Đắng Mùi Đời và Cha Con Nghĩa Nặng. Thế rồi tôi nghĩ, theo sự suy diễn thiển cận và non nớt của một học sinh còn cắp sách đến trường, có lẽ nhà văn Hồ Biểu Chánh chỉ viết vài ba tác phẩm mà thôi. Nếu nhiều lắm cũng chín mười tác phẩm là cùng. Mãi cho đến sau này, lúc nhà văn Việt Hải đề nghị tôi viết một bài về nhà văn Hồ Biểu Chánh, sau khi sưu tầm tài liệu, tôi mới bật ngữa ra và đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác! Thì ra nhà văn Hồ Biểu Chánh sáng tác không phải chín mười tác phẩm mà đến trên một trăm tác phẩm đủ,. một số lượng tác phẩm thật không ngờ! Đã thế, rất nhiều tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Hồ Biểu Chánh được quay thành phim như Ngọn Cỏ Gió Đùa, Con Nhà Nghèo, Ân Oán Nợ Đời, Cay Đắng Mùi Đời, Lòng Dạ Đàn Bà, Tại Tôi, Hai Khối Tình, Tân Phong Nữ Sĩ, Tình Án, Khóc Thầm, Lời Sám Hối, Con Nhà Giàu v v…Nhân ngày ra mắt sách của nhà văn Nam bộ nổi tiếng Hồ Biểu Chánh, tôi xin được giới thiệu cùng quý độc giả khắp năm châu bốn bể toàn bộ tác phẩm của ông ta mà tôi đã sưu tầm được sau đây. Chắc chắn rằng, nhà văn Hồ Biểu Chánh ở dưới suối vàng đã yên chí mà an giấc ngàn thu vì ở trên trần gian này, nhà văn Việt Hải vẫn còn thức để khuyến khích, nhắc nhở và động viên giới tao nhân mặc khách nhớ lại một nhà văn nổi tiếng của xứ Nam bộ ngày nào, với số lượng tác phẩm có một không hai trong lịch sử văn học Việt nam.



Theo Wikipedia, “Ông sinh năm 1884 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang).

Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), tvốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ. Tháng 8 năm 1941, sau khi ông về hưu, được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lý thành phố Sài Gòn, đồng thời làm giám đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp-Việt. Sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1946, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được thành lập, ông được mời làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Nhưng chỉ được mấy tháng, khi chính phủ Nguyễn Văn Thinh sụp đổ, ông lui về quê ở ẩn và giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương. Ông mất ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận, Gia Định; thọ 74 tuổi. Lăng mộ ông hiện nay được đặt ở đường Thống Nhất, phường 11 quận Gò Vấp.”

Được biết, nhà văn Hồ Biểu Chánh sáng tác một số lượng tác phẩm thật không ngờ. Bởi vì lúc còn sinh tiền, ông cặm cụi suốt đêm ngày để viết bài lắm lúc quên cả ăn uống. Ông ta say sưa viết văn đến độ lúc lâm bệnh cũng vẫn viết. Chính trưởng nam của ông là Hồ Văn Kỳ Trân đã kể lại như sau :

« Bệnh đã càng ngày càng thêm mà ba tôi không chịu nghỉ viết. Thầy thuốc cấm. Ba tôi vẫn viết. Con cháu năn nỉ lắm thì ba tôi chỉ nghỉ vài ngày rồi viết nữa và bảo rằng :« Ba còn viết được thì cứ để cho ba viết. Ba không viết được thì lòng thấy bứt rứt, người thấy khó chịu hơn. Có viết được lòng mới thấy yên ổn, người mới thấy thư thả dễ chịu. Viết là một phương thuốc, là một cách trị bịnh cho ba đó» (Trích từ bài « Thụy Khuê, Hồ Biểu Chánh (1885-1958. Nhà văn khai sáng nền tiểu thuyết hiện đại Việt Nam”). Được biết toàn bộ những tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh được viết qua nhiều lãnh vực sau:



Dịch thuật:

o Tân soạn cổ tích (cổ văn Trung Quốc, Sài Gòn-1910)
o Lửa ngún thình lình (dịch tiếng Pháp, SG, 1922)

Thơ:

o U tình lục (Sài Gòn – 1910)
o Vậy mới phải (Long Xuyên – 1913)
o Biểu Chánh thi văn (Tập i, ii, iii bản thảo)

Tùy bút phê bình:

o Chưởng Hậu quân Võ Tánh (Sài Gòn – 1926)
o Chánh trị giáo dục (Gò Công – 1948)
o Tùy bút thời đàm (Gò Công – 1948)

Hồi ký:

o Ký ức cuộc đi Bắc Kỳ (1941)
o Mấy ngày ở Bến Súc (1944)
o Đời của tôi: 1. Về quan trường, 2. Về Văn nghệ, 3. Về phong trào cách mạng
o Một thiên ký ức: Nam Kỳ cộng hòa tự trị (Gò Công – 1948)
o Tâm hồn tôi (Gò Công – 1949)
o Nhàn trung tạp kỷ (tập i, ii, iii Gò Công – 1949)

Hài kịch:

o Tình anh em (Sài Gòn – 1922)
o Toại chí bình sinh (Sài Gòn – 1922)
o Đại nghĩa diệt thân (Bến Súc – 1945)

Hát bội:

o Thanh Lệ kỳ duyên (Sài Gòn 1926 – 1941)
o Công chúa kén chồng (Bình Xuân – 1945)
o Xả sanh thủ nghĩa (Bình Xuân – 1945)
o Trương Công Định qui thần (Bình Xuân – 1945)

Cải lương:

o Hai khối tình (Sài Gòn – 1943)
o Nguyệt Nga cống Hồ (Sài Gòn – 1943)
o Vì nước vì dân (Gò Công - 1947)

Đoản thiên:

o Chị Hai tôi (Vĩnh Hội – 1944)
o Thầy chùa trúng số (Vĩnh Hội – 1944)
o Ngập ngừng (Vĩnh Hội)
o Một đóa hoa rừng (Vĩnh Hội – 1944)
o Hai Thà cưới vợ (Vĩnh Hội)
o Lòng dạ đàn bà (Sài Gòn – 1935)

Truyện ngắn:

o Chuyện trào phúng, tập I, II (Sài Gòn – 1935)
o Chuyện lạ trên rừng (Bến Súc – 1945)
o Truyền kỳ lục (Gò Công – 1948)

Biên khảo:

o Pétain cách ngôn Á đông triết lý hiệp giải (Sài Gòn – 1942)
o Gia Long khai quốc văn thần (Sài Gòn – 1944)
o Gia Định Tổng trấn (Sài Gòn)
o Chấn hưng văn học Việt Nam (Sài Gòn – 1944)
o Trung Hoa tiểu thuyết lược khảo (Sài Gòn – 1944)
o Đông Châu liệt quốc chí bình nghị (Bến Súc – 1945)
o Tu dưỡng chỉ nam (Bến Súc – 1945)
o Pháp quốc tiểu thuyết lược khảo (Bình Xuân – 1945)
o Một lằn chánh khí: Văn Thiên Tường (BX 1945)
o Nhơn quần tấn hóa sử lược (Gò Công – 1947)
o Âu Mỹ cách mạng sử (Gò Công – 1948)
o Việt ngữ bổn nguyên (Gò Công – 1948)
o Thành ngữ tạp lục (Gò Công – 1948)
o Phật tử tu tri (Gò Công)
o Nho học danh thơ (Gò Công)
o Thiền môn chư Phật (Gò Công – 1949)
o Địa dư đại cương (Gò Công)
o Hoàng cầu thông chí (Gò Công)
o Phật giáo cảm hóa Trung Hoa (1950)
o Phật giáo Việt Nam (1950)
o Trung Hoa cao sĩ, ẩn sĩ, xứ sĩ (1951)
o Nho giáo tinh thần (1951)

Tiểu thuyết:

o Ai làm được (Cà Mau 1912, phỏng theo André Cornelis của Paul Bourget)
o Ái tình miếu (Vĩnh Hội – 1941)
o Bỏ chồng (Vĩnh Hội – 1938)
o Bỏ vợ (Vĩnh Hội – 1938)
o Bức thơ hối hận (Gò Công – 1953)
o Cay đắng mùi đời (Sài Gòn - 1923, phỏng theo Không gia đình của Hector Malot)
o Cha con nghĩa nặng (Càn Long- 1929)
o Chị Đào, Chị Lý (Phú Nhuận – 1957)
o Chúa tàu Kim Qui (Sài Gòn - 1923, phỏng theo Bá tước Monte Cristo của Alexandre Dumas)
o Chút phận linh đinh (Càn Long –1928, phỏng theo Trong gia đình của Hector Malot)
o Con nhà giàu (Càn Long – 1931)
o Con nhà nghèo (Càn Long – 1930)
o Cư Kỉnh (Vĩnh Hội – 1941)
o Cười gượng (Sài Gòn – 1935)
o Đại nghĩa diệt thân (Sài Gòn – 1955)
o Dây oan (Sài Gòn –1935)
o Đỗ Nương Nương báo oán (SG 1954)
o Đóa hoa tàn (Vĩnh Hội – 1936)
o Đoạn tình (Vĩnh Hội –1940)
o Đón gió mới, nhắc chuyện xưa (Phú Nhuận – 1957)
o Hai chồng (Sài Gòn – 1955)
o Hai khối tình (Vĩnh Hội – 1939)
o Hai vợ (Sài Gòn – 1955)
o Hạnh phúc lối nào (Phú Nhuận – 1957)
o Kẻ làm người chịu (Càn Long – 1928)
o Khóc thầm (Càn Long – 1929)
o Lá rụng hoa rơi (Sài Gòn – 1955)
o Lạc đường (Vĩnh Hội – 1937)
o Lẫy lừng hào khí (Phú Nhuận – 1958)
o Lời thề trước miễu (Vĩnh Hội – 1938)
o Mẹ ghẻ con ghẻ (Vĩnh Hội – 1943)
o Một chữ tình (Sài Gòn – 1923)
o Một đời tài sắc (Sài Gòn – 1935)
o Một duyên hai nợ(Sài Gòn – 1956)
o Nam cực tinh huy (Sài Gòn – 1924)
o Nặng bầu ân oán (Gò Công – 1954)
o Nặng gánh cang thường (Càn Long-1930)
o Ngọn cỏ gió đùa (Sài Gòn – 1926, phỏng theo Những người khốn khổ của Victor Hugo)
o Người thất chí (Vĩnh Hội –1938, phỏng theo Tội ác và hình phạt của Fyodor Mikhailovich Dostoevsky)
o Nhơn tình ấm lạnh (Sài Gòn – 1925)
o Những điều nghe thấy (Sài Gòn – 1956)
o Nợ đời (Vĩnh Hội – 1936)
o Nợ tình (Phú Nhuận – 1957)
o Nợ trái oan (Phú Nhuận – 1957)
o Ở theo thời (Sài Gòn – 1935)
o Ông Cả Bình Lạc (Sài Gòn – 1956)
o Ông Cử (Sài Gòn – 1935)
o Sống thác với tình (Phú Nhuận – 1957)
o Tại tôi (Vĩnh Hội – 1938)
o Tân Phong nữ sĩ (Vĩnh Hội – 1937)
o Tắt lửa lòng (Phú Nhuận – 1957)
o Thầy Thông ngôn (Sài Gòn – 1926)
o Thiệt giả, giả thiệt (Sài Gòn – 1935)
o Tiền bạc, bạc tiền (Sài Gòn – 1925)
o Tìm đường (Vĩnh Hội – 1939)
o Tình mộng (Sài Gòn – 1923)
o Tơ hồng vương vấn (1955)
o Trả nợ cho cha (Sài Gòn – 1956)
o Trọn nghĩa vẹn tình (Gò Công – 1953)
o Trong đám cỏ hoang (Phú Nhuận – 1957)
o Từ hôn (Vĩnh Hội – 1937)
o Vì nghĩa vì tình (Càn Long – 1929)
o Vợ già chồng trẻ (Phú Nhuận – 1957)
o Ý và tình (Vĩnh Hội – 1938 – 1942)
o Người vợ hiền (?)* (Trích từ Wikipedia)



Về ngôn ngữ trong các tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh, chúng ta thấy ông đã xử dụng những từ rất bình dân và thật ngoạn mục. Hầu hết, các tác phẩm của ông ta toàn là những từ ngữ địa phương của miệt vườn, của lục tỉnh, rặt toàn Nam bộ nghe thật dễ hiểu, giản dị, bình dân. Lời văn thật chân tình, mộc mạc, không kiểu cách, rất tự nhiên nghe như kể chuyện chứ chẳng phải là những áng văn chương trau chuốt, đẽo gọt từng lời, từng câu, từng đoạn: "- Có con nhà ai ngộ quá bây; áp bắt nó đem về trại. May dữ hôn, tao chưa có vợ, vậy để tao bắt con nầy làm vợ chơi (…) Tha cái gì? Ta bắt về làm vợ, chớ ai chém giết gì hay sao mà biểu tha. (…)" (Trong “Ngọn Cỏ Gió Đùa”(1926)

Thỉnh thoảng ông ta lại xử dụng biến thể các từ ngữ khiến người miền Bắc hay Trung nghe thấy lạ tai, nhưng dân Nam bộ nghe thì hiểu ngay. Thí dụ như các từ sau : hôn (không), trỏng (trong), thẩy (thầy ấy), cổ (cô ấy), cỏn (con ấy, thẳng bây v.v.) hay những tiếng thường dùng trong Nam: tía, má nó, sắp nhỏ, má sắp nhỏ, qua. Giống như những đoạn sau đây:

“Vợ chồng ông Bá hộ Cầm đương ngồi trong nhà bàn luận về sự lịnh đòi rể đi lính, bỗng thấy Hào xăng xớm đi vô sân. Hà Văn Ký, là con trai lớn của ông Bá hộ, đương coi cho bạn xúc lúa ngoài sân bưng vô đổ vô lẫm, cậu cũng ngó thầy Hào vô nên cũng đón mà hỏi:

- Hồi nãy nghe bác nói có lịnh đòi dượng đi lính phải hôn?

- Phải.” ?(Trong tác phẩm “Hai Vợ”).

Hay là :

“Ông Thuận ngẩn ngơ.

Hào cười và nói:

- Xưa rày con thường nói với cha thế nào con cũng phải bị kêu đi lính. Thiệt quả như vậy thấy hôn cha?

Ông Thuận lặng thinh.” (Trong “Hai Vợ”)

Hay là đoạn:

- Con phải từ giã rồi mới đi được. Vì khuya phải đi sớm cho mát, thôi để con ra nói liền bây giờ đặng khuya con khỏi ghé. Anh Minh nằm đây mà nghỉ nghe hôn. Tôi đi một chút rồi tôi về.(Trong “Hai Vợ”). Hoặc đoạn sau:

“Tội nghiệp quá! Thằng lo học dữ! Nó không nói trước, để về thình lình rồi đồ ăn đâu có sẵn cho nó ăn.

- Má lo dữ hôn! Ở đất Sài Gòn mà thiếu vật gì. Nó về nó muốn ăn gì nó nói đi mua cho nó ăn chớ cần gì phải lo mua sắm sẵn.” Trong “Kẻ Làm Người Chịu”.

Hoặc là:

“Bà Bá hộ cười. Bà nói với Hai Kỳ:

- Nghe nói có người khác ở Sơn Qui ra kêu nó, khách ở chờ trong nhà đặng khuya đi với nhau. Kỳ biểu bầy trẻ bắt một cặp vịt xách vô trỏng, rồi con ở ăn chơi với em một đêm rồi khuya nó đi.”Trong “Kẻ Làm Người Chịu”.

Hay là các đoạn sau:

“Tội nghiệp quá! Thằng lo học dữ! Nó không nói trước, để về thình lình rồi đồ ăn đâu có sẵn cho nó ăn.

- Má lo dữ hôn! Ở đất Sài Gòn mà thiếu vật gì. Nó về nó muốn ăn gì nó nói đi mua cho nó ăn chớ cần gì phải lo mua sắm sẵn.” (Trong “Kẻ Làm Người Chịu”).

“Tố Nga lên xe, xe rút chạy mà nàng còn nói vói rằng: “Cô có ra thì ra sớm, đặng ở chơi lâu một chút, nghe hôn”. Trong “Kẻ làn Người Chịu”)

Những ai đã từng đọc qua các tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh sẽ thấy những từ ngữ trên xuất hiện thường xuyên trong hấu hết các tác phẩm của ông ta. Nhưng rõ nét nhất, các từ ngữ ấy nằm tiềm tàng trong ba tác phẩm Một Đời Tài Sắc, Con Nhà Giàu, Tĩnh Mộng, Kẻ Làm Người Chịu, Hai Vợ.

Tuy nhiên, trong một vài tác phẩm, chúng ta thấy nhà văn Hồ Biểu Chánh nghe thật lạ tai, lắm lúc người đọc không hiểu thực chất của các từ ấy là nghĩa gì. Phải chăng những từ ngữ này là những từ của từng địa phương ở lục tỉnh, nên địa phương nào thì hiểu theo địa phương đó? Cũng có thể những từ ngữ này đã được xử dụng một thời trong quá khứ ở Nam bộ, nhưng sau này đã từ từ bị biến thể hay ít xử dụng nên ít thấy xuất hiện trong nền văn học hôm nay. Hoạ chăng, thỉnh thoảng dân Nam bộ chỉ dùng những từ này trong các cuộc đàm thoại hằng ngày ở bến nước, bờ tre, ở ruộng đồng cày cấy, hay trong những phiên chợ chiều ở những vùng quê miệt vườn. Đó là những từ ngữ: lộn chồng, òn ý, từ mớ, từng khạo (cai), áo củn, chiết báng, dui dụt, ô-dề, mái chính, chạy tờ, giằn thúc, nôm vợ (lấy người đã có chửa làm vợ), hốt tốc (hấp tấp), bam bù, má đụng (=lấy) cậu, nóc giận (nuốt giận, hết giận), xạc lơ (xuội lơ), cượng (chống)..mà chúng ta thấy rải rác trong những tác phẩm của ông ta.

Tóm lại, trong số những nhà văn Nam bộ vang bóng một thời, chúng ta phải nói rằng người có số lượng tác phẩm nhiều nhất không ai bằng nhà văn Hồ Biểu Chánh; một trong những nhà văn lớn đã đóng góp và phát huy nền văn học nước ta nói chung và văn học Nam bộ nói riêng đầu thế kỷ thứ 20. Đặc biệt khi nói về ngôn ngữ trong hầu hết các tác phẩm của nhà văn Hồ Biểu Chánh, ta thấy văn phong của ông ta đích thực là biểu tượng của ngôn ngữ bình dân, dản dị, dễ hiểu, chân tình, mộc mạc của dân ở miệt vườn lục tỉnh, nơi xứ Nam bộ có những ruộng đồng bao la bát ngát, thẳng cánh cò bay. (California, ngày 01 tháng 07 năm 2016)


Dương Viết Điền





























































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com