<BGSOUND src="Nhac Tho 2.mp3"> Le Dinh











DƯƠNG VIẾT ĐIỀN

Muốn liên lạc với tác giả, xin bấm vào hình trên.















































































































DƯƠNG VIẾT ĐIỂN





Lúc ở Trại Ái Tử, chỉ có vấn đề trốn trại làm bọn cán bộ mất ăn mất ngủ thôi, còn những cuộc nổi loạn hay những phản ứng cá nhân chưa xảy ra. Có chăng đi nữa thì cũng chưa có gì trầm trọng như lúc chúng tôi vào Trại Bình Điền ở Thừa Thiên.

Ngay tại Trại Bình Điền lúc chúng tôi chưa vào đã có một số anh em thành lập từng nhóm nhỏ, chuẩn bị hành động thì bị phát giác và dập tắt. Chẳng hạn như nhóm của anh Hồ Minh Lữ, Trung úy Cảnh sát. Trước khi bị bắt, anh Lữ đã phải vội vàng nuốt mấy trang giấy tài liệu mật vào bụng để phi tang khiến cuống họng anh bị trầy xước sao đó, máu chảy ra khá nhiều. Cũng có thể có một vài nhóm nữa nhưng tôi không được biết vì họ hoạt động hoàn toàn bí mật.

Sau này, lúc đã vào Trại Bình Điền , tôi thấy có một nhóm của anh Trần Quang Miễn cũng hoạt động chống Cộng sản ngay trong trại. Nhưng cuối cùng tất cả cũng bị khám phá ra và bị bắt.

1. Vụ thứ nhất: Nhóm của các anh Trần Quang Miễn, Phạm Bá Vịnh và Phạm Hữu Lập.

Anh Trần Quang Miễn cũng như anh Phạm Bá Vịnh đều ở trong ban văn nghệ với tôi. Hai anh rất khôn ngoan và chiếm được cảm tình của anh em cũng như của đám cán bộ trại qua tài diễn xuất của họ qua các màn trình diễn văn nghệ. Nhất là anh Trần Quang Miễn đã đóng vai một anh bộ đội “cụ Hồ”, ăn nói thật xuất sắc khiến bọn cán bộ không ngờ được một tên tù cải tạo có thể nhập vai một bộ đội đến như thế. Thật ra đó chỉ là bức bình phong khéo léo, anh cố tình dựng ra để che mắt chúng mà thôi hầu dễ bề hoạt động chống lại chúng. Chính anh Trần Quang Miễn, Phạm Bá Vịnh và anh Phạm Hữu Lập đã cùng nhau họp lại thảo ra một cương lĩnh chống Cộng sản ngay trong trại sau này.

Anh Vịnh cho tôi biết, sau những lần gặp gỡ bí mật và tâm sự với nhau, ba người quyết định thành lập Mặt Trận Thanh Niên Việt Nam Yêu Nước ngay tại Trại 1 ở Bình Điền vào năm 1979. Thực ra các anh là những người được đề cử soạn thảo bản cương lĩnh và cả ba đều là đồng Chủ tịch. Còn thành phần của Mặt Trận gồm các toán đi rừng (đội khai thác gỗ), đã họp kín trong rừng sâu những lúc đi lấy gỗ và thành lập Mặt Trận Thanh Niên Việt Nam Yêu Nước vì những nguyên nhân sau:

“Cộng sản đã phản bội Hiệp Định Paris về Việt Nam, nuôi tham vọng ăn cướp miền Nam phát xuất từ tư tưởng man rợ của Hồ Chí Minh. Hiệp Định Paris về Việt Nam là một cái cớ để Cộng sản Hà Nội mượn đường, trên sách lược quốc tế của Mỹ, tràn quân xuống miền Nam năm 1975.

- Cả quân đội, cán bộ, đảng viên các cấp hành chánh chính quyền Cộng sản đã lộ nguyên hình một lũ cướp nước, cướp của, giết dân,trả thù.

- Hơn 20 năm kể từ khi Cộng sản chiếm Hà Nội (1954), người dân miền Bắc sống dưới chế độ Cộng sản đã trở thành nô lệ khủng khiếp, nền văn minh, văn hóa đã lùi lại tận cùng của loài người, dân chúng bị bóc lột, dốt nát, nghèo đói.

- Miền Nam biến thành nhà tù không lồ sau năm 1975, trật tự xã hội, luân lý, đạo đức bị đảo lộn.

Ý thức được tình trạng đất nước đang bị hiểm họa Cộng sản gây tang tóc, dân tộc đang đi vào con đường đen tối, thế hệ trẻ mất hướng đi, không có tương lai. Những người tù đang bị Cộng sản giam giữ tại các trại tập trung trên khắp đất nước hãy đứng dậy cùng toàn dân”.

Vì những nguyên nhân được đề cập ở trên nên theo anh Phạm Bá Vịnh:

“Nay thành lập Mặt Trận Thanh Niên Việt Nam Yêu Nước. Mặt Trận trân trọng công bố cùng dư luận trong và ngoài nước bản tuyên ngôn 6 điểm sau đây:

1- Nhân dân Việt Nam yêu cầu nhà cầm quyền Hà Nội thi hành nghiêm chỉnh bản Hiệp Định Paris về Việt Nam năm 1973. 2- Cái gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam được biến hóa thành chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam là con đẻ của nhà cầm quyền Hà Nội, là tấm bia đỡ đạn suốt cuộc chiến, và cũng là quả chanh sẽ được Hà Nội vắt hết nước trong nay mai. Nhân dân miền Nam Việt Nam yêu cầu Cộng sản Hà Nội phải trả lại nguyên trạng tình trạng xã hội miền Nam trước năm 1975. Chấm dứt mọi thủ đoạn bắt bớ, giam cầm, trả thù và ăn cướp tài sản của đồng bào vô tội tại miền Nam Việt Nam.

3- Mặt Trận Thanh Niên Việt Nam Yêu Nước kêu gọi đồng bào trong nước, hải ngoại, các tôn giáo, các tổ chức chính trị, các hội đoàn hãy đoàn kết lại, ý thức đất nước và dân tộc đang bị họa Cộng sản bóp chết dần dần. Nền văn minh và văn hóa của dân tộc sẽ bị diệt vong thay thế bằng giáo điều của Cộng sản quốc tế do Hồ Chí Minh và tay sai áp đặt lên đầu dân tộc ta.

4- Mặt Trận kêu gọi thanh niên không đi nghĩa vụ cho Cộng sản. Không cầm súng đi xâm lược Kampuchia. Nếu bị bắt buộc cưỡng chế thì thanh niên miền Nam hãy đoàn kết lại, quay súng bắn vào đầu bọn chỉ huy Cộng sản, rồi tìm đường rã ngũ, vượt biên tìm tự do, tổ chức lực lượng kết hợp để đấu tranh.

5- Mặt Trận kêu gọi các quốc gia, các dân tộc yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới hãy ủng hộ nhân dân Việt Nam, lên án Cộng sản Hà Nội và buộc Hà Nội phải rút quân ngay về miền Bắc theo thỏa hiệp được ký và trả lại nguyên trạng cho miền Nam Việt Nam.

6- Mặt Trận Thanh Niên Việt Nam Yêu Nước cương quyết đấu tranh từ trong nhà tù cho đến bên ngoài xã hội bằng mọi cách, mọi hình thức cho đến khi nào Cộng sản Hà Nội phải chịu nhượng bộ nhân dân miền Nam Việt Nam. Mặt Trận kêu gọi: Vì Tổ Quốc, vì Dân Tộc Việt Nam sinh tồn, hãy đoàn kết lại”.

Làm tại trại giam Bình Điền
Tháng 2 năm 1979

Đồng Chủ tịch:
Phạm Bá Vịnh V184.
Trần Quang Miễn M113.
Phạm Hữu Lập L48.

Theo anh Phạm Bá Vịnh, bản cương lĩnh trên đã được chuyền tay qua 5 phân trại và cả ra ngoài xã hội theo đường dây thăm nuôi. Cũng theo anh Vịnh, để chuẩn bị kế hoạch tổ chức vượt trại tập thể của các toán đi khai thác gỗ, ban hành động gồm ba người, viết lên lời kêu gọi nội bộ anh em trong trại gồm 4 điểm như sau:

1- Năng tập luyện thể dục mỗi buổi sáng để giữ gìn sức khỏe.

2- Chú ý đọc báo của Cộng sản hàng đêm, từ đó suy diễn ngược vấn đề để hiểu biết và nắm vững tình hình biết chuyển bên ngoài.

3- Khi lao động bên ngoài, nếu gặp đồng bào và có điều kiện nên nói nhanh với họ cố gắng vận động bà con đòi Cộng sản thả chồng con đang bị “học tập cải tạo”.

4- Khi nào có anh em trong trại bị đau nặng, các đội thay phiên nhau cử hai người đến trực để săn sóc bạn, đồng thời tất cả đều đề nghị ban lãnh đạo trại phải đưa đi bệnh viện cứu cấp.

Anh Phạm Bá Vịnh còn cho biết, sự việc đang tiến hành thì bị tên tù phản bội Nguyễn Văn Lập, một Cảnh sát viên, muốn lập công nên báo cho tên cán bộ trực trại là Lê Văn Năm. Công việc vì thế bị bại lộ. Người đầu tiên bị bắt là anh Trần Quang Miễn, ngày 1 tháng 5 năm 1979. Qua hai ngày sau đến lượt các anh Phạm Bá Vịnh và Phạm Hữu Lập. Tất cả bị đưa đi giam ở 3 chỗ khác nhau để tiện điều tra khai thác.

Những ngày kế tiếp, lần lượt anh em trong trại bị kêu lêu để cật vấn nhưng không một ai dính líu vì cả ba anh nhất định không chịu khai ai cả, chỉ nhận là do chính họ chủ xướng mà thôi. Những anh bị bắt lên tra hỏi thời gian này gồm: Hồ Đình Chữ, Lê Đình Cai, Phạm Xuân Hiến, Lê Thê, Nguyễn Châu, Trần Tấn Việt, Thái Phi Long. Riêng anh Lê Văn Lập, Thiếu úy Cảnh sát, người nằm cạnh anh Miễn, bị bọn công an quy tội bao che tổ chức, biết mà không báo cáo. Chúng trói anh Lập dẫn đến trước mặt anh Vịnh và đánh đập thật dã man vào một buổi trưa lúc giờ ăn cơm. Anh Lập sau đó dùng dây treo cổ tự tử nhưng may mắn anh em phát hiện kịp thời và cứu được.

Chỉ đến khi chúng bắt thêm anh Nguyễn Trọng Tường, sĩ quan Chiến tranh Chính trị TQLC, anh Phạm Bá Vịnh mới cảm thấy bàng hoàng. Anh Tường bị lộ vì nguyên xấp tài liệu do chính tay anh Vịnh soạn thảo bây giờ bị tên Trung tá Trưởng phòng Chấp pháp Ty Công an Bình-Trị-Thiên ném chình ình xuống mặt bàn, nơi anh Vinh đang bị xét hỏi.

Phần anh Trần Quang Miễn, sau khi bị bắt, chúng dẫn anh đến trói tại cái cột “phô-tô” của sân đá banh trại. Vốn là một người gan lì và khí phách, không hề khiếp sợ ngay cả khi đối diện trước họng súng tàn bạo của kẻ thù, lúc tên Trung tá trại trưởng Trần Văn Hương đến muốn dụ dỗ anh để khai khác, anh không ngần ngại phun một bãi nước bọt vào mặt nó làm tên này bàng hoàng sửng sốt. Dĩ nhiên, cũng như các anh Vịnh, Lập, Trường, anh bị chúng đánh nhừ tử và sau đó tống vào nhà biệt giam. Bọn cai tù coi các anh không khác gì con vật. Chúng tra tấn các anh đến ngất xỉu, tạt nước lạnh buộc các anh tỉnh lại rồi tiếp tục hành hạ. Chúng trút lên thân thể các anh những đòn thù tàn bạo không một chút xót thương. Bọn Cộng sản mới chính là những con dã thú mà ngay cả những con thú đôi khi cũng không đối xử với đồng loại của mình như vậy!

Sau khi vụ này xảy ra, bọn giám thị ra lệnh cho toàn trại ngưng lao động. Chúng dồn hết anh em lên hội trường để nghe chúng lên án và sau đó bắt anh em học tập để rút kinh nghiệm. Tiếp theo chúng tìm cách phân tán các anh trong nhóm. Anh Trần Quang Miễn đưa sang giam ở Trại 2; anh Phạm Hữu Lập về Trại 3; anh Nguyễn Trọng Tường vào Trại 1 và anh Phạm Bá Vịnh nhốt ở Trại 5. Tất cả đều bị cùm cả tay lẫn chân tại khu biệt giam trong vòng một tháng. Sau thời hạn một tháng, tay được tháo còng nhưng chân thì vẫn giữ, ròng rã suốt ba năm. Đến năm thứ ba, bọn công an chấp pháp đến trại và lần lượt gọi các anh lên lấy cung. Bản cung của anh Phạm Bá Vịnh phải làm tới 4 lần vì anh không chịu ký nhận những điều mà anh cho là chúng áp cung.

Cuối cùng tới bản thứ tư, sau khi nghe chúng đọc bản cung, anh đòi tên công an trao cho anh tờ giấy, chính mắt dò lại từng chữ trong văn bản mới chịu đặt bút ký. Tên Đại úy chấp pháp Hoàng Huy Huề tuyên đọc bản cáo trạng và hỏi anh:

- Anh đã vi phạm điều 16 của bản hiếp pháp Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và điều 19 của bản hiến pháp nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Ty Công an Bình-Trị-Thiên khởi tố anh lên tóa án nhân dân và đã được phê chuẩn. Anh có điều gì muốn nói không?

Anh Vịnh trả lời:

- Hai điều 16 và 19 của 2 bản hiến pháp đó tôi không hề vi phạm vì tôi là công dân nước Việt Nam Cộng Hòa. Việc các ông đưa tôi ra tòa án, tôi sẵn sàng chờ đợi. Chỉ có ở tòa án, chúng tôi mới có cơ hội để nói.

Nhưng cái cơ hội đó anh Vịnh chẳng bao giờ được thấy. Mãi đến ngày 2 tháng 9 năm 1982, anh được đưa ra khỏi nhà biệt giam để đưa vào khu nhà ri, tức nhà giam tập thể, được bọc thêm một lớp hàng rào kẽm gai nữa. Sau đó, anh được chuyển từ Trại 5 sang Trại 1 và được xung vào đội nhà bếp vì sức khỏe kém. Tuy vậy cũng chỉ kéo dài được 5 tháng thì anh kiệt sức, không thể làm việc được nữa. Hậu quả những trận đòn thù trên thân thể khiến anh vị viêm phế quản, vì không thuốc men, lâu ngày dẫn đến bệnh phổi trầm trọng. Anh phải vào nhà cách ly.

Sáng Chủ nhật ngày 10 tháng năm 1988, anh Phạm Bá Vịnh mới được phóng thích về đoàn tụ với gia đình.

Còn anh Phạm Hữu Lập, với ký hiệu L48 trong bản tuyên ngôn nói trên, anh bị bắt và giải qua Trại 2. Anh Lập nói với tôi, lúc anh Miễn đang ngồi viết bản cương lĩnh của Mặt Trận thì anh ngồi gác một cửa, một cửa anh Vịnh canh. Không ngờ tên cán bộ Năm thình lình xuất hiện bước ngay vào lán khiến 2 anh không kịp báo động. Thế là anh Miễn bị bắt tại trận cùng với bản cương lĩnh vừa viết xong là tang chứng không thể chối cãi.



Sau đó 2 anh cũng bị bắt luôn. Khi bị chất vấn, anh Lập dứt khoát từ đầu đến cuối, trước sau như một, anh trả lời tên chấp pháp Huề, anh chỉ cho anh Miễn mượn cấy viết. Dù là một trong những thành viên của Mặt Trận nhưng anh không hề góp phần vào việc soạn thảo cương lĩnh. Mặc cho chúng tra khảo đánh đập cỡ nào, anh cắn răng chịu, giữ vững lời khai. Không khai thác được gì thêm, bọn công an đành phải tống anh vào nhà ri. Chúng nhốt anh với cả chân tay trong còng suốt gần 4 năm trời. Cuối cùng anh Phạm Hữu Lập cũng được trả tự do năm 1988, cùng năm với 2 anh Phạm Bá Vịnh và Trần Quang Miễn.



. Trích từ tác phẩm “Trại Ái Tử và Bình Điền” xuất bản năm 1993, tái bản 2003.


Dương Viết Điền





























































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com