<BGSOUND src="Nhac Thuong Con Chot Sang Song.mp3"> Le Dinh











DƯƠNG VIẾT ĐIỀN

Muốn liên lạc với tác giả, xin bấm vào hình trên.




















































































































Nói đến cuộc bạo động trong tù, chúng ta không thể quên được “Vụ 20 tháng 4 năm 1979” xảy ra ở phân trại 4, trung tâm trại tù cải tạo Bình Điền, tỉnh Thừa Thiên. Vụ này do một ban tham mưu gồm 9 sĩ quan QLVNCH chỉ huy toàn thể 500 tù nhân trong trại vùng dậy, đòi cải cách chế độ lao tù như tôi đã đề cập ở trên.

Sau vụ này, nhiều anh em tù nhân đã bị bọn công an đánh đập một cách tàn bạo đến gãy xương, trào máu, bầm gan, tím ruột. Nhiều sĩ quan đã bị chết trong tù sau những trận đòn dã man như Đại úy Nguyễn Văn Báu, Đại úy Nguyễn Thuận Cát, Thiếu úy Trần Hữu Sơn. Còn tất cả 9 sĩ quan trong ban tham mưu nói

trên đều bị cùm cả tay lẫn chân gần 5 năm trời trong khu biệt giam. Nếu ai có ở tù tại phân trại 4 thuộc trung tâm cải tạo Bình Điền lúc bấy giờ (20 tháng 4 năm 1979) mới chứng kiến được cảnh bọn công an thuộc Ty Công an Bình-Trị-Thiên lên đàn áp tù nhân bất chấp cả Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế về Nhân Quyền. Chúng đã đánh đập dã man anh em tù liên tục không mệt mỏi. Sau vài tiếng đồng hồ, bọn “thợ đấm” công an rút đi để lại 50 tù nhân nằm rải rác, quằn quại rên la trên vũng máu như các anh Nguyễn Văn Thiện, anh Đôn, Nguyễn Văn Vy, Nguyễn Hữu Ái, Nguyễn Trung Việt và anh Nguyễn Hữu Tứ… y như cảnh một bãi chiến trường.

Chứng kiến cảnh tượng này, anh em tù nhân trong trại vô cùng xúc động nhưng đành phải ngậm đắng nuốt cay.

Có một sĩ quan trong phân trại 4 lúc bấy giờ, đã ghìm cái xúc động đó, chuyển thành mối căm hận trong lòng. Mang trong mình dòng máu anh hùng, bất khuất, kiên cường của Lê Lợi, Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Trần Bình Trọng…, nhớ lại lời thề sẵn sàng hy sinh vì Quốc Gia Dân Tộc, vì lý tưởng Tự Do, đặt Trách Nhiệm, Danh Dự và Tổ Quốc trên hết… anh nguyện dấn thân lao vào cuộc chiến mới ngay trong ngục tù Cộng sản. Anh thề sẽ tiếp tục nuôi dưỡng ý chí đấu tranh đến giọt máu cuối cùng, ngõ hầu mang vinh quang về bồi đắp cho quê mẹ, tô thắm non sông. Bởi vì anh hiểu, chân lý dù có bị đè bẹp xuống dưới bùn lày nước đọng, rồi cũng có lúc ngóc đầu dậy mỉm cười với trời xanh, bất chấp cả thời gian lẫn không gian. Cho dù anh có thể bị đọa đày trong kiếp tù tội thêm 10 hay 20 năm đi nữa, cho dù anh có thể bị xử bắn theo luật rừng, anh vẫn hiên ngang đứng lên bảo vệ chân lý đến cùng, không một chút nao núng. Người sĩ quan đó là Thiếu tá Võ Đằng Phương, thuộc Lữ Đooàn 258 TQLC của QLVNCH.

Nhận thấy Cộng sản đã đối xử quá tàn tệ với tù nhân qua chế độ lao tù trong các “trại cải tạo”, sự phân biệt còn nhắm vào thành phần gia đình vợ con họ cũng như các viên chức thuộc chính phủ VNCH trước đây. Nhận thấy sau khi chiếm được miền Nam, bọn Cộng sản còn cổ xúy chiến tranh gây hấn xâm lấn Kampuchia khiến hàng vạn con em dân Việt phải chết chóc đổ máu vô ích, chỉ vì tham vọng của bọn đầu sỏ Bắc Bộ Phủ. Nhận thấy Cộng sản không chịu thực thi những điều cam kết trước đây mà còn tiếp tục đưa nhân dân đến chỗ đói khổ sau hơn 10 năm chiếm đóng miền Nam… Thiếu tá Võ Đằng Phương, dù đang còn trong ngục tù Cộng sản, quyết định viết một lá thư gởi Thủ tướng Phạm Văn Đồng, yêu cầu ông ta giải tỏa các vấn nạn trên.

Lúc viết lá thư, anh Phương đã ở tù hơn 10 năm rồi. Đại khái, anh đại diện cho nhân dân Việt Nam yêu cầu chính phủ Hà Nội xét lại chính sách cai trị của đảng Cộng sản Việt Nam. Chính Đại úy Nguyễn Đình Khương, Tiểu đoàn phó TĐ120 ĐPQ, người đã tham gia vụ 20 tháng 4, bị Cộng sản cùm gần 5 năm mới thả ra đã được anh Phương móc nối để cùng nhau thảo nên bức thư đó. Lúc anh Khương được đưa từ phân trại 2 về phân trại 1 thuộc trung tâm Bình Điền, anh Khương ngủ sát chỗ anh Phương. Chỗ ngủ của tù lúc đó chỉ rộng khoảng 45 phân, mọi người khi ngủ phải nằm nghiêng mới đủ chỗ. Lợi dụng điểm này, ban đêm, hai người chỉ giăng một cái mùng và ngủ chung để tiện việc bàn thảo về nội dung bức thư. Sau đây là nội dung bức thư viết gửi cho Phạm Văn Đồng:



“……………………………………………………………

Xét rằng:

1. Sau khi Cộng sản chiếm miền Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, tất cả các sĩ quan QL/VNCH đều bị bắt giam trong cái “trại cải tạo” mà không được xét xử, không tuyên án. Đây là một hành động vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris năm 1973 mà chính các ông đã ký kết.

2. Tất cả sĩ quan QL/VNCH trong các “trại cải tạo” trên khắp lãnh thổ Việt Nam đều bị đối xử tồi tệ, vô nhân đạo. Đó là một sự trả thù hèn hạ, thấp kém, điền cuồng, mất cả tình người, không đếm xỉa gì đến bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

3. Gia đình vợ con của tất cả sĩ quan QL/VNCH cũng bị đối xử quá tồi tệ:

- Họ bị đày lên rừng thiêng nước độc để sống trong các vùng mệnh danh là “Kinh tế mới”.

- Tất cả những nhà cửa, tài sản của nhân dân miền Nam bị tước đoạt một cách công khai trắng trợn.

- Con cái của các sĩ quan trong chế độ cũ đều bị cấm vào học ở tất cả các trường vì bị coi là con của ngụy. Lý lịch ba đời bị gán cho những thành phần này khiến cho con cháu họ không thể làm bất cứ việc gì để sinh sống được.

4. Sau hơn 10 năm đất nước Việt Nam được thống nhất, nhân dân Việt Nam vẫn còn đói rách, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Chiến tranh vẫn chưa chấm dứt, hòa bình vẫn chưa xuất hiện trên đất nước Việt Nam. Sự tự do dân chủ vẫn chưa được thực thi. Nhân dân Việt Nam vẫn sống trong lo âu, sợ hãi. Điều này chứng tỏ đảng và nhà nước đang thi hành một chính sách sai lầm hoàn toàn.

Nay yêu cầu đảng và nhà nước:

- Thả ngay lập tức tất cả các sĩ quan và những nhân viên của chế độ cũ đang bị giam cầm trái phép và phải đối xử nhân đạo theo bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế.

- Hãy đối xử nhân đạo và bình đẳng với vợ con, gia đình của tất cả sĩ quan và những viên chức trong chế độ cũ trước đây.

- Xét lại toàn bộ đường lối, chính sách của đảng và nhà nước để toàn dân được cơm no áo ấm và được sống trong một nước hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ thực sự:

* Thực thi hòa giải hòa hợp dân tộc.

* Phục hồi lại nền kinh tế.

* Chấm dứt chiến tranh.

* Giải tỏa lệnh bế quan tỏa cảng thông thương với nước ngoài.

Làm tại Bình Điền ngày 19 tháng 6 năm 1985

Ký tên: VÕ Đằng Phương

Chủ tịch Lâm thời

Phong trào Thiết lập nền Đệ Tam Cộng Hòa




Viết xong bức thư, anh Võ Đằng Phương có mời một số sĩ quan đã tham gia vụ 20 tháng 4 năm 1979 cùng ký vào bức thư trên. Nhưng rồi nghĩ lại, các anh này vừa tham dự một trận chiến trong ngục tù quá khốc liệt, phải để các anh ấy nghỉ dưỡng quân một thời gian đã, nên anh quyết định ký một mình. Anh viết thêm 2 bản nữa thành 3 bản: một gởi cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhờ trưởng trại chuyển giao, một bản gởi cho tên trưởng trại nhờ cán bộ trực chuyển giao và một bản lưu lại.

Sau khi tên Trung tá Trần Văn Tuyền, trại trưởng trung tâm cải tạo Bình Điền nhận được bức thư nói trên, anh Võ Đằng Phương bị bọn công an xuống cùm ngay và đưa vào nhà kỷ luật khoảng 3 tháng trước khi đem ra tòa xét xử. Dĩ nhiên bức thứ đó là một bản án chống chế độ Cộng sản Hà Nội một cách rõ rệt nên ban giám thị trại đã họp bàn với Ty Công an Bình-Trị-Thiên và đi tới quyết định đưa anh ra xét xử trước tòa án nhân dân.

Đứng trước vành móng ngựa, Thiếu tá TQLC Võ Đằng Phương đã trả lời một cách khẳng khái và hùng hồn khiến ai nấy đều cảm phục. Một số nhân viên làm việc trong tòa án đã bỏ dở công việc để chạy vào xem vì thấy “bị cáo” là một mẫu người thật khác thường. Cứ mỗi lần tòa hỏi câu nào, anh Phương không trả lời trực tiếp, anh giả bộ nói loanh quanh để chửi xéo chế độ độc tài đang tác yêu tác quái trên đất nước Việt Nam.

Có lần anh đã phát biểu như thế này:

- Tôi nói đây với tư cách của người dân bình thường, nói lên tiếng nói mà những người chung quanh tôi, bạn bè tôi, nhân dân Việt Nam không dám nói. Tôi nói có tình có lý chứ không phải xử dụng biện pháp quân sự để đàn áp.

Nghe như vậy, tên quan tòa nói ngay:

- Anh chỉ là một thằng sĩ quan ngụy không hơn không kém, anh là cái thá gì? Một triệu quân ngụy cộng thêm bọn lính chư hầu còn thất bại nói gì một mình anh!

Qua một lúc sau, anh Phương lại hiên ngang:

- Các ông làm gì có luật pháp. Luật của các ông là luật rừng. Tôi đã nằm trong tay các ông thì do các ông quyết định.

Thấy những lời lẽ hùng hồn của “bị cáo” gây bất lợi cho phiên tòa, tên quan tòa liền giơ tay ra lệnh cho “bị cáo” nói câu cuối cùng trước khi định án. Biết chúng đã cố ý không cho anh nói nữa vì bản án đã được sắp xếp sẵn. Phiên tòa chỉ là hình thức cho có vẻ công bằng để bị cáo có cơ hội biện bạch. Nhưng anh đâu có ý biện bạch chạy tội. Anh cũng chỉ muốn lợi dụng cơ hội này để vạch trần và tố cáo tội ác của Cộng sản Việt Nam trước dư luận quốc tế. Suy nghĩ thật nhanh trong đầu, anh Võ Đằng Phương cô đọng những điểm cần nhấn mạnh và dõng dạc trước tòa:

- Ai là kẻ vi phạm Hiệp Định Paris 1973?

- Ai là kẻ gây ra chiến tranh và nghèo đói?

- Phạm Văn Đồng phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc xé bỏ Hiệp Định Paris. Rồi đây nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân thế giới đều biết lời nói của tôi trước tòa án này…

Anh đang thao thao thì tên quan tòa gõ cái búa xuống bàn, đứng phắt dậy tuyên bố chấm dứt phần xét xử để vào trong nghị án. Sau khi nghị án, trở ra, quan tòa tuyên án anh Phương 10 năm tù ở với tội danh “Âm mưu lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân”. Thời gian bắt đầu thụ án tính từ ngày anh Phương thi hành xong án “tù cải tạo”.

Theo lời anh Nguyễn Kim Chung, Đại úy TQLC, người cũng có mặt trong phiên tòa với tư cách bị cáo vì nghi ngờ có liên hệ trong vụ án, khi nghe đọc bản kết tội, anh có nhận định đây là một bài luận văn được viết sẵn từ trước. Việc xét xử chỉ có tính cách hình thức để đánh lừa dư luận quần chúng mà thôi.

Như vậy, từ năm 1975 đến năm anh bị đưa ra tòa, anh đã ở tù được 10 năm. Giả sử anh Phương được nhà nước “khoan hồng” phóng thích vì “tiến bộ, học tập tốt, lao động tốt” (theo cách nói của Việt Cộng) trong “cải tạo”, thì anh sẽ tiếp tục thụ án thêm 10 năm nữa là 20 năm. Thế nhưng, chắc chắn với thành tích “bất hảo vì chống đối” này, thời hạn tù cải tạo chưa biết đến chừng nào mới chấm dứt! Vậy thì tổng cộng anh sẽ phải chịu bao nhiêu năm đây? Thật là khôi hài cho nền luật pháp xã hội chủ nghĩa!

Anh bị đưa trở lại Trại Bình Điền để tiếp tục cuộc sống tù đày với hai tay còn trong còng. Tên trại trưởng làm ra vẻ thương hại khuyên anh nên nhún nhường hơn, biết điều hơn để có thể sống còn mà hy vọng ngày về. Anh Phương quát vào mặt nó:

- Ông đừng có bày đặt dạy đời tôi. Ông có học lịch sử Việt Nam, có biết Trần Bình Trọng không? Tôi muốn sống và chết như Trần Bình Trọng.

Dĩ nhiên Thiếu tá Võ Đằng Phương tiếp tục ngồi tù thêm. Cũng may là còn có thời hạn. Nhờ sự thỏa hiệp của Mỹ với bọn Cộng sản Việt Nam, số phận những người tù cải tạo đã được giàn xếp. Năm 1995, anh Phương cũng được ra khỏi nhà tù Hàm Tân. Trở lại quê nhà, anh bị bạo bệnh kéo dài, hậu quả những đòn tra tấn dã man độc ác, qua những năm tháng quằn quại trong ngục tù, giờ đây đã hành hạ cái thân xác còm cõi của anh để rồi ít lâu sau anh phải vĩnh biệt cõi đời trong tức tưởi nghẹn ngào. Thù nhà, nợ nước anh vẫn chưa trả xong thì anh đã vĩnh viễn ra đi!

Qua những hành động đầy kiên cường và bất khuất của Thiếu tá Võ Đằng Phương nói trên, ta thấy rằng sĩ quan QL/VNCH là thành phần ưu tú của dân tộc Việt Nam. Ngay trong ngục tù Cộng sản, họ vẫn hiên ngang, luôn biểu lộ tinh thần Danh Dự, Tổ Quốc và Trách Nhiệm.

Anh Võ Đằng Phương đúng là một sĩ quan gương mẫu đã vị quốc vong thân. (Trích từ tác phẩm “Trại Ái Tử và Bình Điền” của Dương viết Điền xuất bản năm 1993, tái bản năm 2003)




Tổ Quốc và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà
vinh danh Anh.


Dương Viết Điền





























































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com