INTERNET















































































































INTERNET





Ngày 3 tháng 5 vừa qua là ngày kỷ niệm 35 năm Dalida đã ra đi trong lòng những người ái mộ người ca sĩ tài hoa nhưng bạc mệnh này. Nhiều người biết đến Dalida như một ca sĩ chuyên hát nhạc Pháp qua những bài hát nổi tiếng như Bambino, Paroles paroles, T’aimer follement, Romantica, Les enfants du Pirée, Le temps des fleurs, Je suis malade,.. Nhưng ít người biết trái với sự thành công nổi tiếng khắp nơi trên con đường ca hát và nghệ thuật, cuộc đời riêng của Dalida là một chuỗi dài thất bại trên con đường tình cảm và những vấn đề cá nhân.



Tuổi thơ của Dalida đầy những đau khổ và thử thách. Sinh ra ở Ai Cập, Dalida là con của hai vợ chồng người Ý đến lập nghiệp ở Cairo. Tên thật của Dalida là Iolanda Cristina Gigliotti. Lúc mới sinh ra được mười tháng, Iolanda bị đau mắt và phải trải qua nhiều cuộc mổ mắt. Cha cô vẫn thường chơi đàn violin để ru cô ngủ và làm cho cô bớt đau. Sau đó cô bé Iolanda phải mang mắt kính trong suốt những năm ở lớp tiểu học. Bị lũ trẻ trong lớp chế nhạo, Iolanda rất ghét cặp mắt kính của cô ta và có lần cô ném nó qua cửa sổ. Khi Thế Chiến thứ hai xẩy ra, cha cô bị quân đội đồng minh bắt cùng với những người đàn ông Ý khác, và bị giam trong nhà tù Fayed trong một sa mạc gần Cairo. Khi ông ta được thả ra vào năm 1944, cha cô trở về nhà như một người đã hoàn toàn thay đổi. Ông ta trở nên nóng tính, dữ dằn và thường đánh đập Iolanda. Iolanda kể “Tôi rất ghét cha tôi khi ông đánh tôi, và tôi càng ghét những lần ông đánh mẹ và các anh em trai của tôi. Và tôi muốn ông chết đi, và ông đã chết.” Khi Iolanda 12 tuổi, cha cô bị abscess ở óc và chết năm 1945. Biến cố đó đã ảnh hưởng sâu đậm đến Iolanda khi cô làm bạn với những người đàn ông trong suốt cuộc đời của cô.

Lúc còn trẻ, Iolanda đã trốn mẹ để ghi tên thi hoa hậu. Khi mẹ cô nhìn thấy hình ảnh của cô đoạt giải, bà đã đã cắt tóc của Iolanda, và giam cô trong nhà. Sự nghiệp của Iolanda bắt đầu năm 1954 là tài tử điện ảnh đóng vai chính trong phim “The Mask of Tutankhamun” và “A Glass and a Cigarette” khi hai đạo diễn của hai phim này nhìn thấy cô làm người mẫu cho một nhà thiết kế kiểu mẫu ở Cairo. Lúc đó Iolanda lấy tên là Dalila vì cô thích cái tên Dalila, nó rất quen thuộc với nhiều người ở Ai Cập.

Sau đó Dalila đi đến Paris, kinh đô ánh sáng, để thử thời vận. Ở Paris, Dalila ở trong một khu apartment mà người hàng xóm cạnh phòng của cô không ai khác hơn là Alain Delon, lúc đó chưa nổi tiếng. Trong thời gian đó, Dalila đã có một cuộc tình ngắn ngủi với Alain. Sau nhiều thất bại tìm việc làm trong nghề đóng phim, Dalila chuyển qua tập hát để làm ca sĩ và được huấn luyện bởi Roland Berger, một người bạn và là giáo sư âm nhạc. Sau một vài lần trình diễn, Dalila được một tác giả và người viết truyện phim, Alfred Marchand, để ý và khuyên cô nên đổi tên từ Dalila qua Dalida nghe hay hơn, vì Dalila nghe giống như trong truyện thần thoại Samson và Dalila, không tốt cho sự nghiệp của cô. Và Dalida đã trở thành cái tên chính thức của cô.

Năm 1954, Dalida tham dự một buổi tranh giải ca sĩ “Les Numeros 1 de demain” với bài “Etrangère au paradis.” Sau khi Dalida thắng giải, cô được Eddie Barclay, chủ nhân của hãng thu đĩa nhựa lớn nhất ở Paris, Lucien Morisse, giám đốc của radio station Europe No 1, và Bruno Coquatrix, giám đốc của nhà hát Olympia nâng đỡ để đưa sự nghiệp của Dalida lên. Ba người này đã giữ những vai trò quan trọng trong việc đưa tên tuổi Dalida lên đài danh vọng. “Madona” là bài đầu tiên của Dalida cùng với ba bài khác được thâu vào đĩa nhựa, và nhận được nhiều thành công. Nhưng phải chờ đến “Bambino”, mới là bài hát làm cho Dalida nổi tiếng lên hàng số một và bán chạy nhất trong số những pop hits của thập niên 50 ở Pháp, Bỉ, Canada và Thụy Sĩ. Từ đó, Dalida bắt đầu nổi tiếng và đã từng hát chung với nhiều ca sĩ danh tiếng trên khân sấu quốc tế như Julio Iglesias, Charles Aznavour, Johnny Mathis và Petula Clark. Dalida có thể hát được bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, như Pháp, Đức, Ỵ́, Anh, Ả Rập và cả tiếng Nhật..

Dalida cũng trở lại với nghệ thuật thứ bẩy và xuất hiện trong một số cuốn phim như Parlez-moi d'amour, Ménage à l'Italienne, Comme sur des roulettes.. Khi phong trào nhạc trẻ yé-yé xuất hiện năm 1960 cùng với chương trình phát thanh cho giới trẻ “Salut les copains”, những bài hát trước đó và những ca sĩ như Dalida được xem như không còn hợp thời nữa. Dalida đã phải chuyển hướng, và bài “Itsi bitsi petit bikini” của US do Dalida trình diễn đã trở thành bài yé-yé hit đầu tiên ở Paris và được giới trẻ đón chào nồng nhiệt. Dalida bắt đầu đi hát tour tại nhiều nơi trên thế giới và trình diễn những bản nhạc yé-yé rung động.

Năm 1962, Dalida đến Sài Gòn trình diễn, khán giả đến xem đông đến nỗi tạo ra nạn kẹt xe khắp thành phố. Sau đó Dalida bị chính quyền Sài Gòn ngăn cấm không cho trình diễn khi cô hát bài "La Leçon de Twist" vì bài hát được cho là có tính chất chính trị. Tháng 5 năm đó, Dalida lại vượt lên hàng đầu của international chart với bài “Le petit Gonzales” và tháng sau liên tiếp ở Pháp. Bỉ, Canada, và Spain. Theo tờ Le Parisien năm 1987, đó là đĩa thâu đáng nhớ nhất của thời kỳ nhạc yé-yé. Dalida xuất hiện lần đầu tiên trong music video lúc đó gọi là scopitone với bài “Loin de moi” năm 1961 và năm 1962 với bài “Le jour le plus long.” Năm 1972, Dalida thâu bài “Paroles, paroles” với người bạn cũ, Alain Delon. Dalida viết lời bài hát để kể chuyện một người đàn ông dùng kẹo caramel, bonbon và chocolat để nịnh người tình là “que tu es belle”, và cô ta chỉ trả lời là “paroles, paroles”, chỉ là những lời nói rỗng không. Trong thập niên 60 và 70, Dalida đi tour và trình diến nhiều khắp nơi trên thế giới kể cả ở Hoa Kỳ, và nhận được nhiều giải thưởng giá trị, đĩa vàng, và lần đầu tiên đĩa platinum được tạo ra để cho riêng Dalida.

Đến đầu thập niên 80, Dalida thôi hát nhạc disco, và chuyển sang những bài chậm hơn với những ca từ phản ảnh cuộc đời riêng của mình. Năm 1985, bệnh đau mắt của Dalida trở lại và cô phải trải qua hai cuộc giải phẩu. Sự nghiệp ca hát của Dalida phải tạm ngưng. Khi mắt của Dalida trở lại bình thường vào giữa năm, Dalida nhận đóng vai trò của một grandmother trẻ trong phim “The Sixth Day.” Cuốn phim không thành công như ý muốn, mặc dù được nhiều người khen. Dalida đã ngừng hát và đặt tất cả nỗ lực để đóng phim vì cô luôn luôn ước mơ trở thành minh tinh điện ảnh nổi tiếng. Năm 1986, Dalida trở lại với sự nghiệp ca hát và cho ra đĩa “Le Visage de l’amour” nhưng những bài như “Le temps d’aimer” và “Le Vénitien de Levallois” đã không lên được chart mặc dù Dalida đã cố gắng để quảng cáo nó. Những vấn đề khó khăn trong đời tư của Dalida đã ảnh hưởng rất nhiều đến nỗ lực của cô và đĩa “Le Visage de l’amour” đã là đĩa cuối cùng của Dalida. Sau những thất bạí đó, Dalida bỏ nhiều thì giờ ở nhà một mình và ít giao tiếp với người ngoài, ngoại trừ thỉnh thoảng đi chơi với một số bạn bè thân. Dalida ngừng sáng tác và đi trình diễn show nhiều hơn. Đầu năm 1987, bệnh suy giảm tinh thần của Dalida trở nên nặng hơn. Lần cuối cùng Dalida trình diễn live trước khán giả là vào cuối tháng 4 năm 1987 ở Turkey trước khi cô tự sát.

Cuộc đời tư của Dalida không được xuông sẻ và hạnh phúc như sự nghiệp của cô. Tháng 1, 1967 người tình người Ý của Dalida là Luigi Tenco, một ca sĩ, nhạc sĩ, và tài tử, đã bắn súng vào đầu tự sát khi bài "Ciao amore ciao" ("Bye Love, Bye"), bài hát của anh sáng tác và hát chung với Dalida, đã không được chọn trong cuộc tranh giải Sanremo Festival. Trước khi Tenco tự sát, Dalida đã đính hôn với anh ta. Một tháng sau đó, Dalida đã tìm cách tự vẫn bằng dùng thuốc quá liều trong một hotel ở Paris. Dalida bị hôn mê trong năm ngày và phải mất nhiều tháng để bình phục. Cuối năm 1967, Dalida có bầu với một người học trò người Ý, 25 tuổi, tên Lucio. Dalida quyết định phá thai, nhưng cuộc giải phẩu đã làm cho cô không thể có con được nữa.

Tháng 9, 1970 chồng cũ của Dalida là Lucien Morisse tự sát bằng súng bắn vào đầu. Dalida vẫn giữ một sự liên hệ tốt với Lucien sau khi ly dị. Tháng 4, 1975, ca sĩ Mike Brant, bạn thân của Dalida, đã nhẩy lầu tự vẫn từ một căn apartment ở Paris. Tháng 7, 1983, Richard Chanfray, người tình của Dalida từ 1972 -1981 đã tự sát trong chiếc xe Renault của anh ta bằng cách hít khói xe vào trong phổi. Đêm hôm mùng 2 và rạng mùng 3 tháng 5, 1987, Dalida đã uống một liều thuốc an thần Barbiturate thật mạnh để kết liễu đời mình. Dalida đã để lại một cái note viết rằng: "La vie m'est insupportable. Pardonnez-moi." ("Tôi không thể chịu đựng cuộc đời được nữa. Hãy tha thứ cho tôi".) Năm đó Dalida 54 tuổi.


INTERNET





























































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com