<BGSOUND src="Nhac Con Thuong Rau Dang Moc Sau He.mp3"> Le Dinh









Tổng hơp bởi Lệnh Hồ Công Tử, Montreal.













































































































THÁNG BA MẤT NƯỚC

Tổng hơp bởi Lệnh Hồ Công Tử, Montreal.







Lời phi lộ: Từ năm 1975 cho đến nay, tôi đã từng đọc qua nhiều tài liệu nói về tháng Ba năm 1975 của VNCH, tôi không định tổng hợp lại những bài viết vì nhiều tài liệu viết ra chỉ đề cao cá nhân, không giúp cho những thế hệ 2,3 hiểu rỏ thực trạng miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Tuy nhiên, nếu không chịu khó tổng hợp gọn lại thì mấy sĩ quan cũng như những đại công chức của VNCH may mắn đào ngủ, đào nhiệm trước khi Dương văn Minh đầu hàng vẫn còn tung hoành ở hải ngoại đưa ra những tin tức sai lạc.

Vì không muốn tạo sự phân rẽ của những người tị nạn hải ngoại tôi đã tạm ngưng tài liệu này một thời gian. Tuy nhiên sau việc Taliban chiếm Afghanistan một cách dễ dàng chỉ trong vòng 1 tuần lễ, tiếp đến việc Nga đánh chiếm Ukraine tôi thấy rằng việc thua trận của miền Nam Việt Nam cần phổ biến lại để cho thế hệ trể Việt Nam hải ngoại biết rỏ ràng hơn về cuộc chiến của Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa Cọng sản.

Năm 2022, đánh dấu năm thứ 47 miền Nam Việt nam thất thủ. Nguyên nhân thua trận ít người nói rỏ cho thế hệ trẻ hiểu tại sao.

Miền nam Việt Nam nói chung và Đệ nhị Cộng hoà nói riêng chỉ có 3 cuộc đụng độ thật sự với quân Bắc Việt, Tết Mậu Thăn 1968, Mùa hè đỏ lửa 1972, quân đội Miền Nam đã anh dũng đẩy lui hai cuộc tấn công, những chiến công hiển hách này đã viết nên trang Quân sử VNCH, thế nhưng cũng quân đội đó, mùa xuân 1975, lại thảm bại chỉ trong vòng 50 ngày. Thật sự, quân đội VNCH không thua vì họ không đánh trận nào quyết liệt mà chỉ bỏ chạy. Quân sử ghi chép đúng thì cuộc chiến đã thất bại từ lúc bắt đầu “rút khỏi Cao Nguyên, vùng II”. Vậy thì, ai đã làm tan nát miền Nam Việt Nam?.

Theo như những chiến lược gia thì nếu vùng Tây Nguyên bị mất thì các tỉnh nằm dọc duyên hải cũng sẽ mất dẫn đến tan rả VNCH. Vùng này thuộc vùng II gồm có 12 tỉnh: Kontum, Pleiku, Bình Định, Phú Bổn, Phú Yên, Đarlac (Ban mê Thuột), Khánh hoà (Nha Trang), Quảng Đức, Tuyên Đức (Đàlạt), Lâm Đồng (Di Linh, Bảo lộc), Ninh Thuận (Phan Rang), Bình Thuận (Phan Thiết). Chuẩn Tướng Phạm văn Phú là Tư lệnh Quân Đoàn II và chiến trường Cao nguyên được bổ nhiệm đầu tháng 11 năm 1974. Điều đặc biệt là tướng Phú được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân Đoàn do đề nghị và áp lực của Phó Tổng thống Trần văn Hương chứ không phải do ý muốn của Tổng Thống Thiệu hay do đề nghị của Đại tướng Cao văn Viên và đây chính là cái giá mà Tướng Phú và toàn quân dân miên Nam Việt Nam phải trả sau này.





NHỮNG QUÂN NHÂN HÀNG ĐẦU LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC RÚT QUÂN KHỎI CAO NGUYÊN:

Danh sách này có nhiều thiếu sót, không thể hiện đầy đủ tất cà những cựu quân nhân đã tham dự trong trận chiến lịch sử này.

1. Trung tướng Nguyễn văn Thiệu, Tổng Thống VNCH
2. Đại tướng Trần thiện Khiêm, Thủ tướng chánh phủ
3. Đại tướng Cao văn Viên, Tông tham mưu trưởng QLVNCH
4. Trung tướng Lê nguyên Khang, Phụ tá hành quân
5. Trung tướng Đồng văn Khuyên, Tham mưu trưởng liên quân
6. Trung tướng Đặng văn Quang, Phụ tá An ninh Quân sự của Tổng thống
7. Thiếu tướng Phạm văn Phú, Tư Lệnh Quân đoàn II
8. Tướng Lê quang Lưỡng, Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù
9. Chuẩn tướng Trần văn Cẩm Tư lệnh phó hành quân, Quân đoàn II
10. Tướng Phan đình Niệm, Tư lệnh Sư đoàn 22 Bộ binh
11. Chuẩn tướng Lê trung Tường Tư lênh Sư đoàn 23 bô binh
12. Tướng Lê văn Thân, Phụ tá Quân khu II, Quân đoàn II
13. Phó Đề đốc Hoàng cơ Minh, Tư lệnh Hải quân vùng II, Quân đoàn II
14. Tướng Sang, Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân ở Pleiku
15. Chuẩn tướng Nguyễn văn Lượng, Tư lệnh sư đoàn 2 Không quân
16. Tướng Nguyễn văn Chức, Chỉ huy trưởng Công binh
17. Tướng Trần đình Thọ, Trưởng phòng 3 Tổng tham mưu
18. Tướng Nguyễn xuân Thịnh, Chỉ huy trưởng Pháo binh QLVNCH
19. Tướng Nguyễn bảo Trị, Bộ Tổng tham mưu
20. Trung tướng Phạm quốc Thuần, Chỉ huy trưởng trường Hạ sĩ quan Nha Trang
21. Tướng Nguyễn văn Lượng, Tư lệnh Sư đoàn 2 Không quân
22. Thiếu tướng Lâm quang Thơ, Chỉ huy trưởng trường Võ bị Đà Lạt
23. Tướng Nguyễn đức Khánh, Tư lệnh Sư đoàn I Không quân
24. Tướng Triển, Bô Tông tham mưu
25. Tướng Lành, Tư lệnh phó Không quân
26. Tướng Vĩnh Lộc
27. Tướng Bùi thế Lân, Tư lệnh Sư Đoàn Thủy quân lục chiến
28. Chuẩn tướng Nguyễn văn Oánh, Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện Không quân Nha Trang
29. Tướng Nguyễn vĩnh Nghi...
30. Đại tá Bình?
31. Đại tá Cao văn Ủy, phụ tá tướng Tất
32. Đại tá Cầm, Chánh văn phòng Tổng thống
33. Đại tá Chu văn Sáng, Giám đốc an ninh quân đội vùng II
34. Đại tá Chung, Tham mưu trưởng Sư đoàn 22
35. Đại tá Dương Tiếu, Trưởng phòng nhì Quân đoàn II
36. Đại tá Đại, Chỉ huy trưởng trung tâm huấn luyện Biệt động quân Dục Mỹ
37. Đại tá Đồng, Tư lệnh Lữ đoàn II Thiết kỵ
38. Đại tá Đức, phụ tá Địa phương quân và Nghĩa quân sau
39. Đại tá Gia, Tỉnh trưởng Phú Yên
40. Đại tá Hoàng thọ Nhu, Tỉnh trưởng Pleiku
41. Đại tá Huy, Cựu Lực lượng Đặc biệt
42. Đại tá Lê Cầu, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 47
43. Đại tá Lê khắc Lý Tham mưu trưởng quân đoản,
44. Đại tá Lê trọng Đàm, Chỉ huy trưởng Cảnh sát Quốc gia Quân khu II
45. Đại tá Lều thọ Cường, Tư lệnh phó Sư đoàn 22 Bộ binh
46. Đại tá Loan, Tổng cục phó Tiếp vận
47. Đại tá Lý bá Phẩm, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Nha Trang
48. Đại tá Nguyễn hợp Đoàn, Tỉnh trưởng Đà Lạt
49. Đại tá Nguyễn hữu Lương, nhảy Dù
50. Đại tá Nguyễn hữu Thông, Trung đoàn trưởng Trung Đoàn 42
51. Đai tá Nguyễn trọng Luật, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Ban mê Thuột
52. Đại tá Nguyễn văn Hãn Giám đốc An ninh Quân đội vùng II
53. Đại tá Nguyễn văn Nghìn, Tỉnh trưởng Quảng Đức
54. Đại tá Phạm duy Tất chỉ huy trưởng Biệt động quân quân khu II,
55. Đại tá Sáu, Tư lệnh phó Lữ đoàn 2 Thiết kỵ
56. Đại tá Tuyền, Chỉ huy trưởng căn cứ Phù Cát
57. Đại tá Thảo, Chỉ huy trưởng Căn cứ Không Quân Phan Rang
58. Đại tá Trần công Liễu, Thị trưởng Cam Ranh
59. Đại tá Trần cửu Thiên, phụ tá về Bình định và Phát triển của tướng Phú
60. Đại tá Vũ thế Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 Bô binh
61. Đại tá Vỵ, Tỉnh trưởng Bình Định
62. Phó Đề đốc Châu, Chỉ huy trưởng căn cứ Hải quân Nha trang
63. Trung tá Dậu, liên đoàn trưởng liên đoàn 21 Biệt động quân
64. Trung tá Lê văn Phát, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Dù
65. Trung tá Nguyễn cao Vực, Quận trưởng Đức Lập
66. Trung tá Nguyễn ngọc Vân, Trưởng phòng 4 Quân đoàn
67. Trung tá Nguyễn văn Giang, Giám đốc Không trợ II
68. Trung tá Võ Ân, Trung đoàn trưởng trung đoàn 53 Bô binh
69. Thiếu tá Nguyễn văn Hóa, Sĩ quan Tùy viên của tướng Phú
70. Thiếu tá Nguyễn quang Vinh, Chánh văn phòng của tướng Phú
71. Thiếu tá Lương văn Ngọ, Chỉ huy trượng lực lượng Thám kích Quân đoàn
72. Thiếu tá Lượng, phi công

Còn nhiều sĩ quan và binh lính không kê ra trong cuộc hành quân này, việc thiếu sót này nếu có dịp sẽ bổ sung sau.



TRẬN MỞ MÀN 10.03.1975 tại BAN MÊ THUỘT:

Đây là trận mở màn để tiếp theo những chuổi ngày tan rả của quân đội thiện chiến VNCH. Ngày quân đội Bắc Việt chiếm Ban Mê Thuột chính là ngày khai tử VNCH, ngày 10-03-1975.

HỌP TẠI CAM RANH 14.3.1975: Phiên họp lịch sử tổng cộng 117 phút

Phiên họp lịch sử gồm có ông Nguyễn văn Thiệu, Trần thiện Khiêm, Cao văn Viên, Đặng văn Quang, Phạm văn Phú.

Tướng Phú ban đầu muốn cố thủ tại Pleiku, giữ Cao nguyên và tái chiếm Ban mê Thuộc, nhưng với tính gian xảo và độc tài ông Thiệu, quyết định cho tất cả toàn bộ Quân đội chính qui VNCH rút khỏi Cao Nguyên, các ông Khiêm, Viên và Quang đều yên lặng trước quyết định của ông Thiệu. Việc làm vô nhân đạo của ông Thiệu được ban ra là từ cấp Tỉnh trưởng, Quận trưởng, các cơ sở hành chánh của 3 tỉnh Pleiku, Kontum, Phú Bổn cũng như dân chúng đều bị bỏ lại. Theo như được biết Tướng Phú không muốn tuân theo lệnh rút quân của ông Thiệu nhưng không hiểu lý do gì ông đã đổi ý khi trở lại Pleiku họp Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn.

Bắt đầu từ 11:32 ngày 14.3.1975, tại tòa bạch dinh Cam Ranh đã bắt đầu buổi họp đến 13:03 cùng ngày lệnh triệt thoái Cao nguyên đã hợp thức hóa và ban hành bởi ông Thiệu.

Phiên họp lịch sử tại Cam Ranh ngày 14/03/1975 chấm dứt lúc 13 giờ 29, buổi họp tổng cộng 117 phút. Bắt đầu ngày và giờ này đánh dấu việc dứt điểm VNCH do Nguyễn văn Thiệu,Trần thiện Khiêm, Cao văn Viên, Đặng văn Quang và Nguyễn văn Phú phải chịu trách nhiệm về thảm bại của Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975.

ĐƯỜNG RÚT QUÂN: Rút quân theo Tỉnh lộ 7, từ Pleiku về Tuy Hòa

Theo như giao thông lúc bấy giờ từ Pleiku muốn đến vùng duyên hải gồm các con đường:sau đây:

- Quốc lộ 19 Pleiku-Qui Nhơn, 190km. Đây là con đường ngắn nhất từ cao nguyên đến duyên hải nhưng tướng Viên cho rằng khó thành công vì địch đóng chốt nhiều nơi, hai bên đông và tây đèo An Khê đã bị cắt.

- Quốc lô 14 và Quốc lô 21 để đến Nha Trang. Không sử dụng được vì muốn đến Quốc lộ 21 phải vượt Quốc lộ 14 nhưng khoãng Pleiku-Ban mê Thuột đã bị Cộng sản cắt đứt do CSBV có 3,4 Sư đoàn chính qui tại chiến trường Ban mê Thuột.

- Liên Tỉnh lộ 7 Pleiku-Phú Bổn-Tuy Hòa, 300km. Trục lộ này không có chủ lực quân Bắc Việt nhưng đã lâu không sử dụng, nhiều cầu bị hư hỏng, mìn bẩy do các lực lượng Đồng minh gài từ trước chưa được gở bỏ.

Xem ra đường rút quân theo Tỉnh lộ 7 với đề nghị của tướng Phú có vẻ hợp lý do tính BẤT NGỜ, nhưng tại sao không cho thăm dò và sửa chửa trước khi rút quân. Nếu giải tỏa đèo An Khê thì việc rút quân sẽ nhanh và có phần dễ dàng hơn vì đây là huyết lộ nối liền Cao nguyên và duyên hải ngắn nhất.

NGÀY RÚT QUÂN 17.03.1975: Cuộc rút quân được chuẩn bị có 2 ngày

Rút lui cả một quân đoàn nhưng không hiểu lý do gì chỉ chuẩn bị có 2 ngày, giờ đây những nhân chứng không còn nữa cho nên không cần tìm hiểu.

25.03.1975, PLEIKU-PHÚ YÊN, 300 CÂY SỐ

Rất nhiều tài liệu nói về việc rút quân trên Tỉnh lộ này, cho đến hôm nay, sau 46 năm nhiều người thất lạc trên Tỉnh lộ 7 vẫn còn là đề tài mà nhiều thân nhân còn tìm kiếm.

2.04.1975 NGÀY CHẤM DỨT QUÂN ĐOÀN II;

Quân đoàn II sát nhập vào Quân đoàn III, Tướng Phú, Đại tá Đức, Thiếu tá Vinh, Thiếu tá Hóa và Phạm Huấn bàn giao cho Tướng Nguyễn văn Hiếu, Tư lệnh phó Quân đoàn III. Ngày 02-04-1975 là ngày chấm dứt sự nghiệp trong quân đội của tướng Phạm văn Phú

NHẬN XÉT VÀ VÀI LỜI BÀN:

Theo binh pháp dương đông, kích tây, Tướng Phú muốn rút quân theo Tỉnh lộ 7 thì phải giả cho một số lực lượng tái chiếm Ban mê Thuột để cầm chân lực lượng Bắc Việt. Lực lượng CSBV sau khi chiếm được Ban mê Thuột thì họ sẽ tấn công Kontum và đánh chiếm Quân đoàn II đóng tại Pleiku. Ông Thiệu ra Cam Ranh họp và ra lệnh cho Tướng Phú rút quân khỏi Cao Nguyên, ông Thiệu đã có dự định bỏ vùng I và II vì theo tin đồn tin đồn vào thời đó, nhiều mờ ám trong hiệp định Paris ký năm 1973, một lời đồn là VNCH sẽ nhường vùng I và II tức từ vĩ tuyến 17 đến vĩ tuyến 13 làm vùng trái độn. Chính quyền miền Nam chỉ giữ lại vùng đất từ Nha Trang trở vào, có nghĩa chỉ còn vùng III và vùng IV. Tiếc rằng sau 1973, tôi có dịp gặp ông Phạm đăng Lâm, trưởng phái đoàn của VNCH trong hội đàm Paris nhưng không hỏi được thắc mắc này?. Cũng có thể việc cắt đất chỉ là thỏa thuận giữa Mỹ và CSBV để trao đổi tù binh Mỹ chăng?.Hiện nay ông Lê trọng Quát, ông Lâm chấn Thọ, ông Ngô thanh Hải đang phục hồi hiệp định Paris có hay biết về chuyện cắt đất nhường dân này không?. Cũng cần nhấn mạnh việc ông Ngô thanh Hải nộp dự luật lên quốc hội Canada “xin xét lại hiệp định Paris 1973”, là một điều vô bổ vì sau khi hiệp định Paris được ký, vài tháng sau Canada đã rút khỏi tổ chức này và nhường lại cho Iran.

Có nguồn tin cho rằng việc rút quân khỏi Cao nguyên chỉ là trò làm áp lực với Mỹ cho tới khi ra Cam Ranh họp ông Thiệu mới có quyết định. Nếu như ông Khiêm, Viên, Quang đồng lòng phản đối và ông Phú chống lại lệnh rút quân thì cục diện lúc đó đã đổi khác. Việc rút quân liên hệ đến nhiều Quân binh chủng từ Không quân, Hải quân, Thiết giáp, Công binh vv...vv, phải bàn bạc trước, không thể ban hành lệnh rút quân khơi khơi. Ban ra lệnh rút quân rồi mới hỏi là rút đi đường nào thì ông Thiệu đúng là làm tùy hứng, không coi ai ra gì. Mặt khác, Tướng Phú đã không cân nhắc trước khi họp Quân đoàn khi ông về lại Pleiku, vì tuyên bố quá sớm cho nên tính bảo mật về việc rút quân đã bại lộ làm giao động đến quân sĩ và người dân. Nếu như tướng Phú cho quân giải tỏa Ban mê Thuột, một mặt cho quân theo đường 7 làm như tấn công Ban mê Thuột nhưng với mục đích là sửa sang dọn đường Tỉnh lộ 7 thì các sư đoàn của CSBV sẽ sa lầy tại chiến trường Ban mê Thuột không còn theo đoàn rút quân để đánh phá. Nếu Tỉnh lộ 7 thông suốt thì quân và dân không bị dồn tại Cheo Leo, Phú Bổn để ăn đạn của CSBV. Trong binh pháp, việc rút quân là việc rất khó, nếu tướng Phú có đọc Tam Quốc Chí hay Hán Sở Tranh Hùng thì sẽ dễ đàng nhận thấy việc rút quân của Khổng Minh, Hàn Tín, Tào Tháo, Tư Mã Ý không dễ dành như ông Thiệu hay ông Phú đã nghĩ. Lệnh tấn công Ban mê Thuột phải đi trước lệnh rút quân là giải pháp không chọn lựa lúc bấy giờ. Theo nhận xét, tướng Phú là tướng mặt trận cho nên ông chỉ biết tiến đánh chứ ông không học phương pháp rút lui. (25 Tháng Ba 2022).


Tổng hơp bởi Lệnh Hồ Công Tử






























































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com