<BGSOUND src="Nhac Con Thuong Rau Dang Moc Sau He.mp3"> Le Dinh









Thái Cát















































































































Thái Cát





Gần nửa năm lơ mơ lểnh mểnh. Tấm thân già mang phải bệnh trầm kha. Lại thêm chuyện nhớ nhà nơi đất khách. Thân xác yếu nhưng trí còn lành mạnh. Nằm một nơi nhìn cô quạnh lên men. Cửa tâm hồn mở lỏng chẳng cài then. Rất thong thả ra vào hình dáng cũ.

Nhớ quê ngoại với rồn dương liễu rũ. Nhớ Nguyệt Biều có cái độn Thình Lồi. Tiếng chim Cà Lơi réo rắt trên trời. Vang vọng lại từ bãi cát bồi Lương Quán. Cuối làng Nguyệt Biều có cái xóm Vạn Phước, gọi tắt là xóm Vạn. Do cụ Hường Đàn trang trọng đặt tên. Để nhớ ơn một vị quan viên. Chức tri phủ là cụ Thân Trọng Bính. Cụ Hoàng Trọng Đàn là Tiên chỉ của làng. Quan Tiên có sở hưu ở tuốt mô trong Đà Nẵng. Cụ vẫn đi lãnh hưu hàng tháng. Nhà cụ ở ngã tư đường cái của làng thuộc cuối xóm Tây. Và con đường nhỏ đi ngang về bến Nậy. Từ đây nhìn ra, xóm Vạn Phước bắt đầu từ chỗ mô hè? Nhà thờ họ Võ ở ngay trước mặt tê tề. Qua khỏi vườn nhà cụ Huấn là khúc quanh quẹo về phía trái. Con đường rãi đất đỏ viền cỏ xanh tươi mãi. Rất an lành thoang thoảng những hương tre.

Chuyện nhớ ơn quan tri phủ răng hè? Cần gẫm lại cái câu “Bất giao Nguyệt Biều hữu”(1), mà người xưa căn dặn kiểu thơ văn. Dân làng Nguyệt Biều tính nết đàng hoàng. Chỉ có điều là chuyên môn vội vàng thưa kiện. Từ chuyện nhỏ như con kiến đến chuyện lớn như cái cồn Kéc xóm Lò. Vì ông Tây Bồ Ghè mở lò nung vôi bây chừ mang tên Long Thọ. Bất cứ chuyện gì dân làng cũng trình với quan Tiên xin xét xử. Tuy việc chẳng ra chi nhưng cũng làm nhiều phen mệt ứ. Khiến cho quan tri phủ cũng cảm thấy động tâm. Theo đèn sách đã mấy mươi năm. Lại có khiếu về khoa Địa Lý. Am hiểu lý Tả Ao, thông thạo luật Cao Biền. Khi rãnh việc quan, cùng với cụ Hường Đàn dạo chơi khắp xóm. Để xét xem ngạch đất của làng. Nghiên cứu tỉ mỉ, âm thầm liên tiếp hàng tháng, hàng năm. Và kết quả đã tìm ra thế đất. Chứa dòng nước uống vào nẩy sinh quái tính tật. Bèn ra tay yểm chấn ngay ngạch đất. Hiệu quả rành rành, cụ Tiên Chỉ truyền ghi. Xét rằng: Suốt mấy chục năm liền, chẳng thấy dân làng kiện cáo nhau chi. Quan Tiên Chỉ Hoàng Trọng Đàn cho là Vạn Phước. Tổ chức họp hội đồng hương đảng bao phen. Cụ quyết định lập thêm tên một xóm. Địa thế nằm về phía cuối của xóm Tây. Nơi có nhà của cụ quan tri phủ Thân Trọng Bính. Xong ghi tên cụ Bính là khai canh xóm Vạn Phước. Hàng năm có bày lễ cúng xóm giữa ngã tư đường gần vườn quan tri phủ. Việc cũ tính đến nay cũng đã quá tám chín mươi năm.

Chuyện người dân làng Nguyệt Biều thích kiện tụng đã nằm vào dĩ vãng. Cụ khai canh Thân Trọng Bính tính sổ trời lìa đời năm Canh Dần độ nớ. Nhằm vào năm Bảo Đại họp quần thần lập ra điều “Hoàng Triều Cương Thổ”. Đến bây chừ rất ít người còn nhớ. Chuyện ôn vua, chuyện ôn tri phủ năm xưa. Chuyện ôn Trình tế xóm lúc nửa trưa. Chuyện ôn khai canh mới vừa quên lãng. Con cháu của ôn cho dù thông minh sáng láng. Cũng chẳng hề quan tâm đến viên đá tảng trấn đời. Tiếng chim cà lơi vọng xuống độn Thành Lồi. Tưởng như đang hót ở cổng trời cao thẳm. Dân làng Nguyệt Biều xem chừng như hết hẳn. Tính thích đua nhau thưa kiện với trưởng làng, lại tất bật chơi trò xách mé xoay càng lấy làm vui. Ui chao ơi! Cái làng Nguyệt Biều lắm chuyện của tui! Và thiệt là lạ chưa tề: Cả và làng đều làm quan hết thảy (2). Từ quan Tiên Chỉ là cụ Hường Đàn ngồi xắp mảy. Xuống quan Nghè, quan Ấm, quan Thừa. Quan Huấn, quan Giáo lưa thưa. Quan Đội, quan Khán, đu đưa quan Trùm. Quan Giám, quan Cửu tùm lum. Quan Cả, quan Thợ, um sùm quan Viên. Quan Bếp, quan Bộ, quan Xạ đua chen, cuối bài thủng thẳng kê tên mội vài.

Làng Lương Quán vài người biết rõ. Bãi cát bồi từ thuở xa xưa. Có con rái cá lạy trước mặt nhà vua. Khi thuyền Ngự cũng vừa qua đấy. Đức Minh Mạng lúc vừa trông thấy. Đã cho tên là Lại Bái Châu. Dựng bia truyền lại mai sau. Bãi Rái Lạy cùng nhau ghi nhớ. Cái hói cạn âm thầm muôn thuở. Nay cát bồi theo sóng vỗ phập phòng. Dần dần bồi lấp bờ sông, bít nơi nước hói xuôi dòng ra sông. Ôn tên Đôn mê nhảy vọt lên đồng. Gốc chèo đò, tiện thể cặp bờ sông. Nơi cát bồi lấp mất dòng nước hói. Ôn âm thầm không biết ai để hỏi. Kiếm tre nan dựng đại một cái trang. Dùng để thờ Cô Chín Thượng Ngàn. Khi có dịp, trải chiếu, mời dàn chầu văn hầu thánh. Dần dần cái trang bằng tre thành cái miếu xây gạch. Thờ thánh mẫu Liễu Hạnh và các ông Quận với những Tiên Cô. Ngày nay miếu ông Đôn cơ hồ gần như sắp sập. Nạn xúc lấy trộm cát tấp nập kề bên. Đứng xa xa thấy miếu đã nghiêng nghiêng. Sau vài ba trận lụt nữa, miếu sẽ gặp chuyện phiền không tránh khỏi.

Kể chuyện cũ có cần chi phải vội. Nhớ năm xưa đang ở tuổi ngây thơ. Học thì nhác, không muốn nhìn sờ sách vở. Còn chuyện đi chơi đi giởi, khoái chí cười hớn hở. Dang nắng suốt ngày cũng chẳng có chi! Thả lỏng lêu bêu cứ thế bước đi. Chẳng căng cù u chịu thì cùng nhau xúm xít đánh bi. Hay “ù mọi” ôm trì cố giữ hết hơi không cho chạy. Những kỷ niệm quý báu đẹp tươi biết mấy. Câu cá, bẫy chim, đá dế hết ngày. Đến thời kỳ mạnh chân khỏe tay. Đi thuê lấy chiếc xe kéo tay hai bánh. Cùng thằng em ra bãi Lương Quán xúc cát bán kiếm tiền. Làm lồng bẫy. Bắt chim con đang bay chuyền. Chặt cây hóp làm cây cần câu cá. Hương mùa hè thật là thơm chi lạ. Tiếng chim sơn ca đang thả nhạc giữa trời. Xúc cát mệt hai thằng cùng ngồi nghỉ. Bên tê sông tiếng vọng từ Trường Sơn ầm ỉ. Máy bay Phantom của Mỹ đang thả bom. Ven sườn núi Hương Uyển cây Thông Một đứng lặng buồn. Cụm khói xám ùn lên kế tiếp theo sau nghe tiếng nổ. Nhớ chuyện Đoàn Nhữ Hài và Huyền Trân công chúa. Việc nhận đất xứ Thuận Hóa đã ghi vào sử Việt. Còn trồng thông tiếc thật chẳng buồn ghi. Cây Thông Một vẫn thầm thì cùng Nguyệt Biều Lương Quán. Cố đô Phật Thệ có cái xóm Vạn không đò. Bờ đất tiếp tục bồi khiến bãi cát thêm to. Ụ dưa hường con chim cà lơi làm tổ. Nắng chói chang hòa tiếng chim hót mừng mấy bông dưa màu vàng vừa nở. Con ong ruồi hớn hở lên xuống rộn quăng. Làm sung mãn vạt dưa làng Lương Quán. Trong vườn cây xanh mát. Cây Mộc Mức trầu leo. Cành Ổi tổ Chuốc Miều. Chim Chiều Chiều cây mít. Chim Sâu Sâu cuống quýt. May hai lá vào nhau. Dùng tơ nhện trắng phau. Bên hàng rào nép tổ. Chim Chích Chòe huýt gió. Trong bộng Mộc Mức cao. Gió lay cành lao xao. Cặp chim con nho nhỏ. Hai mép vàng, cánh lố nhố mấy cọng lông. Cái “bệ lụn” thấy cũng đã “chập” xong. Bắt khỏi tổ rồi bỏ vào lồng mà nuôi “chắc sống!”. Hương vườn Nguyệt Biều tỏa lan lồng lộng. Chuỗi nhạc cà lơi vang vọng trên không. Cặp chích chòe con cần một cái lồng. Theo đúng kiểu cách của dòng chim cảnh!

Bên tê Thành Nội. Phía Tây Hoàng Thành. Chợ Cầu Đất hiền lành khép nép. Có tiệm bán mấy cái lồng chim thiệt là đẹp cách chi! Hai ôn chủ tiệm kinh nghiệm chẳng ai bì. Cách thức nuôi bất cứ loại chim gì hai ôn đều “một cây” biết hết. Cái lồng lưới thép nuôi chim chích chòe giá một trăm đồng đắt thiệt. Bằng giá học phí hàng tháng lớp Đệ Thất trường Bình Minh năm 1962. Vừa thấy cặp chim chích chòe non dại lạc loài. Bác Cả Hy liền cho ngay trăm bạc. Biểu đạp xe qua bên chợ Cầu Đất. Mua cái lồng chim làm bằng lưới sắt mang về mà nuôi. Cầm tờ “giấy bạc trăm” trong tay, lòng cảm thấy vui sướng quá trời. Chiếc xe đạp cũ mèng cũng lấp lánh tỏa ké niềm vui chút chút. Đường qua chợ Cầu Đất hôm nay trời bỗng mát! Dựng xong chiếc xe đạp, bước vào tiệm, vòng tay thưa hai Bác. Con muốn mua một cái lồng chim. Để về nuôi hai con chích chòe chưa biết bay chuyền. Và xin hai Bác chỉ cho liền phương pháp nuôi chim đúng cách. “Cho chim con ăn bằng cái muỗng lạt tre. Xúc tép khô từng muỗng đút cho ăn vừa gọn vừa sạch sẽ”. Câu ca dao: “Cu cu ăn đậu ăn mè, Bồ Chao ăn lúa, Chích Chòe ăn khoai!” Thuộc lòng cứ tưởng mình tài. Hôm qua lấy một củ khoai ra dùng. Cắt từng miếng nhỏ để chung. Trong chén khoai sống sẽ dùng mồi chim. Đút cho vài miếng, chim im. Nằm yên, nhắm mắt lim dim hiền hòa. Bất ngờ chim há mỏ ra. Mấy lát khoai sống vậy là “không tiêu”. Ăn bao nhiêu, ói bấy nhiêu. Vội kiếm châu chấu rất nhiều vườn sau. Nhanh tay mà chụp cho mau. Nhốt vào trong hộp để sau sẽ dùng. Ăn khoai thì ói tưng bừng. Lời ca dao ấy liệu chừng đúng sai? Hai Bác căn dặn một hai. Ăn tép thì nhớ! Ăn khoai thì đừng! Khi chim hết réo trong lồng. Lấy gạo trộn với mấy lòng trứng tươi. Phơi nắng khô khén xong rồi. Cất trong hũ kín dùng thời rất hay. Chích Chòe ăn thức ăn này. Sẽ sung mãn sức, hót ngày hót đêm. Nghe xong, xin được ngồi thêm. Thong dong nhìn những con chim réo mồi. Toàn là những thứ cà lơi. Đang còn rung cánh réo mồi liên miên. Trong ổ chẳng chịu nằm yên. Tép khô lác đác rơi bên chỗ nằm. Phân chim miệng tổ rải quanh. Dùng để quảng cáo mạnh lành lũ chim. Giữ cho chúng chẳng chịu im. Ăn hơi đoi đói kêu rên suốt ngày. Khách hàng muốn bắt về ngay. Lựa con đầu lớn, móng dài, mình thuôn. Chim trống nuôi hót trong chuồng. Chim mái sẽ thả về nguồn sản sinh! Xem xong rồi lại xem quanh. Hai bác thương tình chẳng cấm chút chi! Một trăm trong túi mang đi. Tiền lồng hết trọn vậy thì trắng tay. Cà Lơi réo hót thiệt hay. Vừa xoay hất cát, vừa quay lòng vòng. Nhảy lên trụ đứng giữa lồng. Tay nghề huấn luyện những vòng chuyên môn. Xếp thứ hạng. Định ngạch nguồn. Giá tiền mua bán buộc buông theo tình! Cặp chim Chích Chòe được mình nuôi lớn. Nhưng lắng nghe tiếng hót chẳng hay. Một hôm nâng nhẹ bàn tay. Mở lồng cho chúng cùng bay trong vườn. Vài tuần chúng mất hút luôn. Về sau thấy chúng sau vườn người ta. Tiếng hót khản đặc chia xa. Rồi ra lướt cánh mượt mà thiên di! Bãi cát Lương Quán sẽ nhỏ cẩm ti. Nếu đem so sánh những gì của Tiểu Trường Sa. Từ cửa Thuận An phóng ra, tới tỉnh Quảng Trị tuốt ra Quảng Bình! Cát vàng những độn xinh xinh. Nằm dọc ven biển nặng tình Hải Âu! Tiếng kêu choe chóe buồn rầu. Như hồn chim Nhạn qua cầu phù sinh. Lạ chưa! Cũng cát hữu tình. Cà Lơi Chiệng Chiệng bạc tình bỏ qua. Trời xanh biển cũng mặn mà. Cát vàng, cát trắng cũng là cát êm. Cà Lơi Chiệng Chiệng chẳng thèm. Không hề ghé lại mà xem cát mềm.

Quê Ngoại mình thật êm đềm. Tàu ghé bến Quận, bước lên xóm Chùa. Đi xuôi theo con đường Trưa. Ngang qua chợ Mới cũng vừa xóm Diêm. Ngày xưa “Nác lõa” nửa đêm. Ngày nay “đoanh” đúc đè lên cát mềm. Phường Đoài đã được nối liền. Tất cả hải sản gánh lên dễ dàng. Phân chia đi khắp các làng. Phường Đoài mất tiếng nơi làm Mắm, Khô (3). Mắm ruốc Phường Đoài ngày xưa. Bây chừ vắng bóng như chưa biết làm. Hoa giáp đã sáu mươi năm. Chút chi hoài niệm âm thầm làm ghi. Một ngàn sáu trăm năm sau trong giá lạnh mây chì. Tết Mậu Thân ầm ì lửa đạn. Trên đọt cây Thông Một tung bay gần nửa tháng, Việt Cọng treo cờ Giải Phóng Miền Nam. Rồi đến khi tàn cuộc chiến năm bảy mươi lăm. Cây rừng Trường Sơn bị bán cho Nhật Bản. Cây Thông Một cùng chịu chung đại nạn. Bãi cát làng Lương Quán thay đổi dung nhan. Chim sơn ca tan đàn bay qua xứ khác.

Tại quê người, nhớ Nguyệt Biều với tấm lòng tan nát. Thân thể sau cơn bạo bệnh lỏng khỏng ốm nhom quá đỗi tiêu điều. Mở youtube, tìm lại chim sơn ca thời trai trẻ ở Nguyệt Biều. Nghe tâm sự của một bạn người Tiều: “Tiếng chim sơn ca dập dìu là tiếng chào vui tươi của tổ tiên về thăm từ thượng giới”. Nhớ lại thời ghế Đại Học Sư Phạm Huế còn ngồi. Lớp anh văn của thầy Nguyễn Tư Trừng trong lúc cuối giờ rảnh rỗi, nghe thầy kể chuyện về những con chim thầy thấy trên đường buổi sáng đi đến trường trong thời gian du học Mỹ. “Con chim sơn ca hót ở cổng trời – "The Skylark Sings at Heaven's Gate - Shakespeare". Bây chừ, không sơn ca, không skylark, không woodlark, không sandlark, hay loài chim réo hót trên bầu trời xứ Huế. Trải chút tâm tư khi nhớ đến loài chim có tên gồm bốn chữ tiếng Việt xưa, rất xưa. Xưa đến độ trong bộ tự điển đồ sộ dày trên hai ngàn trang, chứa trên mười triệu từ, gồm hơn 60 thứ ngôn ngữ là bộ “Từ điển Nguồn Gốc Tiếng Việt” của anh Nguyễn Hy Vọng M.D. xuất bản tại California, Hoa kỳ năm 2012 không thấy ghi bốn chữ “Cà Lơi Chiệng Chiệng”. (California ngày 31 tháng 3 năm 2022)



Ghi chú:

(1) Bài thơ ghi:

Bất ẩm Thạch Hàn thủy (Khúc sông giữa Bằng Lãng và điện Hòn Chén. Uống sẽ bị đau bụng. Thái Cát kinh nghiệm)
Bất thực Lương Quán kê (Sẽ bị kinh phong)
Bất thú Dã Lê thê (Sẽ bị vợ giết)
Bất giao Nguyệt Biều hữu.(Sẽ bị bạn kiện).

(2) Từ quan Tiên Chỉ là cụ Hường Lô Tự Khanh Hoàng Trọng Đàn ngồi xắp mảy. Xuống quan Nghè (Bộc), quan Ấm (Bạo), quan Thừa (Liễu). Quan Quyền (Hàng), quan Giáo (Đường) lưa thưa. Quan Đội (Dục), quan Khán (Kiệm), đu đưa quan Trùm (Đỉu). Quan Giám (Đống), quan Cửu (Khiêm) tùm lum. Quan Cả (Cu), quan Thợ (Thứ), um sùm quan Viên (Sấn). Quan Bếp (Hồi), quan Bộ (Diệu), quan Xạ (Cơ) đua chen, cuối bài thủng thẳng kê tên mội vài.

(3) Mắm ruốc Phường Đoài ngày xưa. Thời đệ nhất Cọng Hòa, xây con đường đoanh gọi là đường xóm Diêm, nối chợ Mới, băng qua con đường cái duy nhất của làng Thế Chí Đông tục gọi là Con Đường Trưa, ra tới Phường Đoài. Theo Bát Quái thì Đoài thuộc phương Tây, nhưng Phường Đoài của làng Thế Chí Đông lại nằm về phương Đông sát bờ biển Thái Bình Dương. Giao thông tiện lợi. Phường Đoài phát triển mạnh, nay lớn như một thị xã. Trước kia, hải sản bắt được vì giao thông bất tiện, phải làm mắm, làm ruốc, phơi khô v.v. Bây giờ có đủ thứ từ lò mổ thịt đến biệt thự cho khách du lịch! Đáng mừng cho Quê Ngoại! Con đường Xóm Diêm bây chừ cải thành con đường Xóm Rậy, nghe thiệt hay như tiếng con chim Cà Lơi Chiệng Chiệng đang bay lượn trên bầu trời của Độn Thình Lồi! (Ghi chú: Thành Lồi khác với Độn Thình Lồi).


Thái Cát






























































Free Web Template Provided by A Free Web Template.com